CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ CHẤT LƯỢNG DỊCH VỤ KẾ TOÁN Như đã đề cập ở nội dung trên, liên quan đến vấn đề về kế toán – số lượng các nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam đang dừng lại ở một con số khá khiêm tốn. Chương này tác giả sẽ trình bày các nghiên cứu có liên quan đến chất lượng dịch vụ cũng như chất lượng dịch vụ kế toán đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam thực hiện. Từ đó, tác giả sẽ đưa ra nhận xét cũng như tìm ra khiếm khuyết của lĩnh vực nghiên cứu, để tìm ra hướng nghiên cứu cho đề tài của mình.1 Các nghiên cứu liên quan đến chất lượng dịch vụ trên thế giới [1] Nghiên cứu của Parasuraman, Zeithaml và Berry (1985 2 , 1988 3 , 19914) Parasuraman, Zeithaml và Berry (sau đây gọi tắt là PZB) (1985, 1988) được xem là những tác giả đầu tiên nghiên cứu về chất lượng dịch vụ cụ thể và chi tiết với việc đưa ra mô hình khoảng cách trong chất lượng dịch vụ.
Đây được xem là mô hình nghiên cứu chất lượng dịch vụ phổ biến và được áp dụng nhiều nhất trong các nghiên cứu về lĩnh vực tiếp thị (marketing). PZB (1985) cho rằng: “chất lượng dịch vụ là khoảng cách giữa sự mong đợi (kỳ vọng) của khách hàng và nhận thức (cảm nhận) của họ khi đã sử dụng dịch vụ”. Mô hình chất lượng dịch vụ được xây dựng dựa trên phân tích các khoảng cách chất lượng dịch vụ. Có năm khoảng cách được đưa ra trong mô hình, đó là: Khoảng cách 1 (KC1): Khoảng cách giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng với kỳ vọng của khách hàng.
Khoảng cách 2 (KC2): Khoảng cách giữa nhận thức của công ty về kỳ vọng của khách hàng với các tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ. Khoảng cách 3 (KC3): Khoảng cách giữa tiêu chuẩn chất lượng dịch vụ với thực tế cung cấp cho khách hàng. A conceptual model of service quality and its implications for future research. the Journal of Marketing, 41-50 3 Parasuraman, A.
The service-quality puzzle. Perceived service quality as a customer‐ based performance measure: an empirical examination of organizational barriers using an extended service quality model. Human Resource Management, 30(3), 335-364 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Khoảng cách 4 (KC4): Khoảng cách giữa chất lượng dịch vụ thực tế cung cấp và chất lượng dịch vụ đã thông tin tới khách hàng. Khoảng cách 5 (KC5): Khoảng cách giữa dịch vụ khách hàng nhận được và kỳ vọng của khách hàng về dịch vụ.
Đến năm 1988, PZB đã xây dựng và kiểm định thang đo năm thành phần của chất lượng dịch vụ, gọi là thang đo SERVQUAL gồm 22 biến. Thang đo này đã được các tác giả này kiểm nghiệm và điều chỉnh nhiều lần và kết luận rằng nó là thang đo phù hợp cho mọi loại hình dịch vụ. Sự tin cậy (Reliability): Thể hiện bên ngoài của cơ sở vật chất, thiết bị, nhân viên, công cụ thông tin. Khi công ty XYZ hứa sẽ thực hiện một điều gì đó vào khoảng thời gian cụ thể, công ty sẽ thực hiện.
Khi bạn gặp vấn đề, công ty XYZ thể hiện sự quan tâm chân thành trong giải quyết vấn đề. Công ty XYZ thực hiện dịch vụ đúng ngay từ lần đầu tiên. Công ty XYZ cung cấp dịch vụ đúng vào thời điểm mà công ty hứa sẽ thực hiện. Công ty XYZ thông báo cho khách hàng khi nào dịch vụ sẽ được thực hiện.
Khả năng đáp ứng (Responsiveness): Thể hiện mức độ mong muốn và sẵn sàng phục vụ khách hàng. Nhân viên trong công ty XYZ phục vụ bạn nhanh chóng, đúng hạn. Nhân viên trong công ty XYZ luôn luôn sẵn sàng giúp đỡ bạn. Nhân viên trong công ty XYZ không bao giờ tỏ ra quá bận rộn để không đáp ứng yêu cầu của bạn.
Năng lực phục vụ (Assurance): Thể hiện kiến thức, chuyên môn và phong cách lịch lãm của nhân viên phục vụ; khả năng làm cho khách hàng tin tưởng. Hành vi của nhân viên công ty XYZ ngày càng tạo ra sự tin tưởng đối với bạn. Bạn cảm thấy an toàn khi thực hiện giao dịch với công ty XYZ. Nhân viên công ty XYZ bao giờ cũng tỏ ra lịch sự, nhã nhặn với bạn.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Nhân viên trong công ty XYZ có kiến thức để trả lời các câu hỏi của bạn. Sự đồng cảm (Empathy): Thể hiện sự ân cần, quan tâm đến từng cá nhân. Công ty XYZ thể hiện sự quan tâm đến cá nhân bạn.
Công ty XYZ có những nhân viên thể hiện sự quan tâm đến cá nhân bạn. Công ty XYZ chú ý đặc biệt đến những quan tâm nhiều nhất của bạn. Nhân viên trong công ty XYZ hiểu được những nhu cầu đặc biệt của bạn. Phương tiện hữu hình (Tangibles): Thể hiện, hình ảnh bên ngoài của cơ sở vật chất, công cụ, thiết bị và vật liệu, máy móc, phong cách của đội ngũ nhân viên, tài liệu, sách hướng dẫn, hệ thống thông tin liên lạc.
Công ty XYZ có các trang thiết bị hiện đại. Cơ sở vật chất của công ty XYZ trông rất hấp dẫn. Nhân viên của công ty XYZ ăn mặc gọn gàng, cẩn thận. Các phương tiện vật chất trong dịch vụ tại công ty XYZ rất hấp dẫn.
Công ty XYZ bố trí thời gian làm việc thuận tiện. Nghiên cứu “Measuring Service Quality: A Reexamination and Extension” tạm dịch là “Đo lường chất lượng dịch vụ: Nghiên cứu lại và Mở rộng” của hai tác giả này thực hiện vào năm 1992 với hai mục tiêu chính. Mục tiêu thứ nhất, các tác giả cho rằng, khái niệm và nội dung của công cụ SERVQUAL do PZB (1985, 1988) nghiên cứu là chưa thực sự đầy đủ. Chính vì thế, Cronin và Taylor tiến hành nghiên cứu và tìm ra công cụ đo lường chất lượng dịch vụ đầy đủ hơn SERVQUAL.
Vì vậy, trên thế giới đã xuất hiện mô hình SERVPERF là biến thể của SERVQUAL cũng sử dụng các thang đo của năm nhân tố. Mục tiêu thứ hai của nghiên cứu này là nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ, sự hài lòng của khách hàng và định hướng sử dụng dịch vụ của khách hàng. Cronin và Taylor (1992) với mô hình SERVPERF, cho rằng mức 5 Cronin Jr, J. Measuring service quality: a reexamination and extension.
The journal of marketing, 55-68. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 độ cảm nhận của khách hàng đối với việc cung cấp dịch vụ của doanh nghiệp phản ánh tốt nhất chất lượng dịch vụ. Theo mô hình SERVPERF thì: Chất lượng dịch vụ bằng (=) Mức độ cảm nhận, bỏ qua phần kỳ vọng của khách hàng. Nghiên cứu này dừng lại ở việc kiểm định mô hình đo lường chất lượng dịch vụ SERVQUAL và đưa ra một mô hình đo lường chất lượng dịch vụ ngắn gọn hơn.Armstrong và Alan Davision tiến hành nghiên cứu “An Empirical Investigation of the Dimensions of Service Quality in Australia Accounting Firms” tạm dịch là “Nghiên cứu thực nghiệm điều tra các nhân tố của chất lượng DVKT tại công ty kế toán ở Úc” với mục tiêu kiểm định sự phản hồi của khách hàng bằng việc sử dụng công cụ SERVQUAL để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ tại công ty DVKT.
Nghiên cứu đã tiến hành xây dựng và kiểm định mô hình đo lường chất lượng dịch vụ dựa trên mô hình của PZB (1988). Tác giả đã sử dụng phương pháp khảo sát bằng bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên 22 thang đo cho năm biến độc lập như mô hình SERVQUAL. Đối tượng khảo sát của nghiên cứu này là các khách hàng có sử dụng DVKT tại công ty kiểm toán Big-Six (nay là Big Four) và công ty DVKT tại Úc. Kết quả, nghiên cứu đã xác định bốn nhân tố có tác động đến chất lượng dịch vụ tại các công ty kế toán ở Úc, đó là: phương tiện hữu hình (tangibles), hiệu quả phục vụ (effectiveness), sự đồng cảm (empathy) và tính chuyên nghiệp (professionalism).
[5] Nghiên cứu Saxby và cộng sự (2004)7 Năm 2004, Saxby và cộng sự tại Malaysia đã tiến hành nghiên cứu với tiêu đề “Service Quality In Accounting Firms: The Relationship Of Service Quality To Client Satisfaction And Firm/Client Conflict” tạm dịch là “chất lượng dịch vụ tại doanh nghiệp kế toán: Mối quan hệ giữa chất lượng dịch vụ đến sự hài lòng khách hàng và sự xung đột giữa doanh nghiệp/khách hàng”. Nghiên cứu này cũng tiến hành khám phá các nhân tố tác động đến chất lượng DVKT cũng như đo lường mức độ tác động của các nhân tố này đến sự hài lòng của 6 Armstrong, R. An Empirical Investigation of the Dimensions of Service Quality in Australia Accounting Firms. Journal of Customer Service in Marketing & Management, 1(2), 105-122.
7 Saxby et al. Service quality in accounting firms: The relationship of service quality to client satisfaction and firm/client conflict. Journal of Business & Economics Research (JBER), 2(11). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 khách hàng.
Saxby và cộng sự dùng mô hình năm nhân tố SERVQUAL để khám phá ra các nhân tố tác động đến chất lượng DVKT bằng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua kỹ thuật phỏng vấn chuyên sâu các chuyên gia. Để đo lường mối liên hệ giữa chất lượng DVKT đến sự hài lòng của khách hàng, phương pháp định lượng được sử dụng, thông qua kỹ thuật khảo sát 154 doanh nghiệp bằng bảng câu hỏi khảo sát với thang đo dựa trên mô hình SERVQUAL. Kết quả nghiên cứu cho thấy chất lượng dịch vụ (sự tin cậy, năng lực phục vụ) có mối quan hệ tích cực với sự hài lòng của khách hàng và tiêu cực với sự xung đột giữa doanh nghiệp/khách hàng. Theo kết luận này, công ty DVKT có thể nâng cao sự hài lòng khách hàng bằng cách tập trung vào tiêu chí bằng cấp “Chứng chỉ kế toán công chứng” với nhân tố sự tin cậy và năng lực phục vụ.
Thêm vào đó, khách hàng cũng yêu cầu công ty dịch vụ phải độc lập. Việc cung cấp một câu trả lời chính xác quan trọng hơn là việc cung cấp dịch vụ đúng thời điểm. Công ty DVKT nên từng bước đảm bảo nhân viên của họ dành sự đồng cảm và đảm bảo chắc chắn cung cấp dịch vụ tốt nhất cho khách hàng. Công ty DVKT có thể giảm đi sự xung đột giữa doanh nghiệp/khách hàng bằng cách tập trung vào khía cạnh khả năng đáp ứng và năng lực phục vụ.
Sự đảm bảo là nhân tố tác động đáng kể đến sự hài lòng khách hàng và xung đột giữa doanh nghiệp/khách hàng. Kiến thức chuyên môn là một trong những thành phần quan trọng của nhân tố năng lực phục vụ đối với cả sự hài lòng khách hàng và xung đột giữa doanh nghiệp/khách hàng.