phần mở đầu, tóm tắt, lời cam đoan, lời cám ơn, danh mục các bảng biểu, hình vẽ, tài liệu tham khảo, phụ lục và kết luận, đề tài bao gồm 5 chương: Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu. Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết của đề tài nghiên cứu. Chƣơng 3: Phương pháp nghiên cứu. Chƣơng 4: Kết quả nghiên cứu.
Chƣơng 5: Kết luận và kiến nghị. 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Tổng quan nghiên cứu về mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính Bài nghiên cứu về mức độ công bố thông tin trên thế giới đã xuất hiện tưởng đối nhiều ở các quốc gia: Nghiên cứu của Hossain và cộng sự (1995) nghiên cứu về mức độ công bố thông tin tự nguyện trên BCTN của các công ty niêm yết tại sở giao dịch chứng khoán ở New Zealand bao gồm 5 nhân tố ảnh hưởng: quy mô DN, đòn bẩy tài chính, loại tài sản, doanh nghiệp kiểm toán BCTC của công ty và tình trạng niêm yết tại nước ngoài.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy mô DN, đòn bẩy tài chính và tính trạng niêm yết nước ngoài là 3 yếu tố có ảnh hưởng lan rộng đối với mức độ công bố thông tin tự nguyên của các DNNY tại New Zealand. Nghiên cứu của Owusu-Ansah (1998) sử dụng báo cáo của 49 DNNY ở Zimbabwe trong đó bao gồm 214 thông tin bắt buộc công bố và tác giả nêu ra quan điểm điểm rằng quy mô và tuổi DN, cấu tr c vốn chủ sở hữu, liên kết các tập đoàn đa quốc gia và khả năng sinh lời có ảnh hưởng đáng kể và tích cực đối với việc công bố các thông tin bắt buộc. Nghiên cứu của Begoña Giner Inchausti (2010) sử dụng báo cáo thường niên của 49 công ty ở Tây Ban Nha trong giai đoạn từ năm 1989 đến năm 1991 và kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các đ c điểm của DN sẽ ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin bao gồm hoạt động kiểm toán, quy mô và sở giao dịch chứng khoán, đồng thời, yếu tố thời gian về việc thay đổi các quy định về công bố thông tin c ng ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin trên báo cáo tài chính. Nghiên cứu của Nandi và Ghosh (2012) sử dụng dữ liệu của 60 công ty niêm yết trên TTCK Ấn Độ từ năm 2000 đến năm 2010 và chỉ ra rằng quy mô của Ban 8 Giám đốc, quy mô DN, khả năng sinh lời và khả năng thanh khoản là 4 yếu tố có tác động cùng chiều đến mức độ công bố thông tin của DN.
Nghiên cứu của Jouini (2013) nghiên cứu các yếu tố quyết định về việc công bố thông tin tài chính đối với các công ty niêm yết tại Pháp giai đoạn từ năm 2004 đến năm 2008 và nêu rõ kết quả rằng quy mô hội đồng quản trị và sự hiện diện của các thành viên thuộc hội đồng có ảnh hưởng tích cực đến chất lượng của thông tin tài chính được công bố. Nghiên cứu của Risheh (2018) nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin phi tài chính của các DNNY thuộc Jordan và kết quả của nghiên cứu cho thấy quy mô công ty và quy mô khoản phải thu tác động vừa tích cực vừa tiêu cực đến mức độ công bố thông tin phi tài chính, trong đó, khả năng sinh lời thì không gây ảnh hưởng. Tại Việt Nam, đề tài này c ng được nhận được nhiều sự quan tâm của các tác giả và đã tiến hành nghiên cứu: Nghiên cứu của Phạm Thị Thu Đông (2013) đã chỉ ra 2 yếu tố: tài sản cố định và khả năng sinh lời có tác động đến mức độ công bố thông tin trên BCTC của DNNY trên sở giao dịch chứng khoán Hà Nội (HSN) thông qua dữ liệu trên BCTC đã kiểm toán của 80 DNNY trên HSN. Tuy nhiên, quy mô DN, tỷ lệ thanh khoản, đòn bẩy nợ và công ty kiểm toán là những biến không có ý nghĩa trong nghiên cứu của tác giả.
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Cường và Lê Thị Bảo Ngọc (2017) chỉ ra rằng mức độ bố thông tin của các DN nhóm ngành hàng tiêu dùng chưa cao và quy mô DN, khả năng thanh toán và công ty kiểm toán là 3 yếu tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin của các DN nhóm hàng tiêu dùng niêm yết trên TTCKVN. Kết quả của nghiên cứu cho thấy quy mô DN, nhân tố sở hữu nhà nước và sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin tài chính. Nghiên cứu của Phan Thi Hai Ha và cộng sự (2019) sử dụng BCTC đã kiểm toán năm 2017 của 87 DN nhóm ngành công nghiệp niêm yết trên sàn giao dịch chứng 9 khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và chỉ ra danh tiếng của công ty kiểm toán, quy mô và thời gian hoạt động, khả năng thanh toán, đòn bẩy tài chính và khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu là 6 yếu tố tác động cùng chiều với mức độ công bố thông tin trên BCTC. Nguyễn Thị Mai Hương và cộng sự (2020) nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin tự nguyện trên BCTN của các DNNY trên HOSE.
Nghiên cứu này thu thập dữ liệu từ BCTN của 122 DNNY trên HOSE trong 4 năm từ 2015 đến 2018 và áp dụng phương pháp FEM và REM cho ra kết quả rằng thời gian niêm yết và khả năng sinh lời có tác động cùng chiều đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, trong đó, quyền sở hữu tổ chức có tác động ngược chiều đến mức độ này. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Loan và Tô Thị Thư Nhàn (2020) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin tự nguyện của các DNNY trên HOSE. Tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp từ BCTN của 122 DNNY trên HOSE từ năm 2015 đến năm 2017 và nêu ra kết quả rằng quy mô DN, thời gian niêm yết, khả năng sinh lời là 3 yếu tố tác động tích cực đến mức độ công bố thông tin tự nguyện, yếu tố quyền chủ sở hữu tổ chức thì ngược lại. Nghiên cứu của Ngô Quang Tuấn (2021) với đề tài về thực trạng CBTT PTBV của các DNNY ngành thực phẩm và chỉ ra rằng mức độ CBTT PTBV của các DNNY nói chung, DNNY ngành thực phẩm nói riêng đã có cải thiện sau khi Thông tư 155/2015/TT-BTC được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/01/2016.
Thông qua việc nghiên cứu báo cáo bền vững của 13 DNNY ngành thực phẩm mà có giá trị chứng khoán cao và chỉ ra rằng có 9 DN CBTT PTBV trình bày theo 6 mục tiêu PTBV của Thông tư 155/2015/TT-BTC, trong đó công ty Cổ phần Sữa Việt Nam CBTT PTBV trong báo cáo bền vững riêng biệt và trình bày theo hướng dẫn của GRI với hơn 200 trang. Bên cạnh đó, nghiên cứu chỉ ra rằng sau khi thông tư này được ban hành thì mức độ CBTT của các DN đã có cải thiện. Năm 2016 thì còn nhiều DN không CBTT PTBV nhưng giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2020 và gần đây nhất là năm 2021 thì các DN đã công bố lồng ghép các mục tiêu PTBV vào BCTN ho c BCBV riêng biệt. Tổng quan nghiên cứu về các nhân tố tác động đến mức độ công bố thông tin phát triển bền vững của doanh nghiệp Trên thế giới, đề tài về các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ công bố TTPTBV cung được quan tâm: Nghiên cứu của Haniffa và Cooke (2002) c ng tìm thấy mối quan hệ thuận chiều giữa sở hữu nước ngoài và mức độ công bố tính bền vững của các công ty niêm yết Malaysia.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng các DN có vốn sở hữu nước ngoài càng lớn thì càng công bố nhiều thông tin ra thị trường. Nghiên cứu của Husseiney và cộng sự (2011) các yếu tố ảnh hưởng đến việc công bố thông tin bền vững thông tin phát triển ở Ai Cập bằng cách thu thập và phân tích dữ liệu của 111 công ty được liệt kê trên thị trường chứng khoán Ai Cập từ năm 2005 đến năm 2010. Kết quả cho thấy lợi nhuận của công ty là một nhân tố quan trọng có ảnh hưởng tích cực đến việc công bố thông tin của phát triển bền vững. Các báo cáo tài chính được kiểm toán bởi các công ty không thuộc Big 4 c ng có ảnh hưởng đến công bố thông tin, đ c biệt là ít công bố thông tin hơn, nhưng ảnh hưởng này là tương đối yếu.
Ngoài ra, các tác giả đã nhận ra rằng không có bất kỳ mối quan hệ nào giữa quy mô công ty, tính thanh khoản, cơ cấu vốn, loại hình sở hữu và công bố thông tin phát triển bền vững. Nghiên cứu của Bowrin (2013) nghiên cứu 55 DNNY trên 3 sàn giao dịch chứng khoán lớn của Caribbean vào năm 2010 và nêu rõ quy mô DN, văn hóa tổ chức, liên kết trong ngành và ảnh hưởng nước ngoài là những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ thông tin trên báo cáo xã hội – môi trường. Tác giả c ng đưa ra nhận định rằng khuyến khích các DN tham gia vào các dự án ho c sáng kiến về các công bố về trách nhiệm xã hội – môi trường để công bố một cách toàn diện hơn nhằm nâng cao TNXH của DN. Nghiên cứu của Haji (2013) chỉ ra rằng quy mô DN, quyền sở hữu của DN, quyền sở hữu của chính phủ là những yếu ảnh hưởng đến mức độ và chất lượng công 11 bố thông tin TNXH thông qua việc đo lường báo cáo TNXH của 85 công ty tại Malaysia trong giai đoạn từ 2006 đến 2009.
Nghiên cứu của Persson và Vingren (2017) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự công bố TTPTBV của DN Nhà nước ở Thụy Điển và kết quả của nghiên cứu chỉ ra quy mô DN, thành viên HĐQT và khả năng sinh lời là 3 yếu tố có ảnh hưởng tích cực đến mức độ CBTTPTBV của DN Nhà nước ở Thụy Điển. Bên cạnh đó, tác giả còn chỉ ra rằng DN Nhà nước thì ít công bố các chỉ số bền vững hơn so với các DN Nhà nước sở hữu một phần. Nghiên cứu của Hummel và Szekely (2021) với đề tài công bố các mục tiêu PTBV tại Châu Âu và chỉ ra các nhân tố ảnh hưởng đến các mục tiêu này. Nghiên cứu thu thập dữ liệu thứ cấp thông qua BCTN của 600 DNNY tại Châu Âu từ năm 2015 đến năm 2018 và sử dụng GRI để đánh giá mức độ CBTT của các công ty này.