chương 1, tác giả đã trình bày tổng quan các nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam có liên quan đến sự lựa chọn CSKT trong DN. Qua đó, có thể thấy đây là một chủ đề rất được quan tâm bởi các nhà nghiên cứu. Phần lớn các nghiên cứu trước đây thường tập trung phân tích vào ảnh hưởng của một nhóm nhân tố riêng biệt và đối tượng nghiên cứu thường bao quát, diện rộng mà không chú trọng vào đặc điểm ngành nghề riêng biệt của DN. Do đó, tác giả nhận thấy cần phải có một công trình nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của một ngành nghề cụ thể, mà ở đây tác giả lựa chọn DN sản xuất phần mềm vốn là ngành nghề trọng điểm đang được khuyến khích đầu tư và phát triển.
Chương tiếp theo tác giả trình bày các khái niệm và cơ sở lý thuyết nền tảng, từ đó kết hợp với tổng quan các nghiên cứu đã nêu trên để xây dựng mô hình nghiên cứu cho luận văn. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 15 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ SỰ LỰA CHỌN CSKT 2. Tổng quan về CSKT và sự lựa chọn CSKT Khái niệm chính sách Từ điển bách khoa Việt Nam (2002) đã đưa ra khái niệm về chính sách như sau: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ. Chính sách được thực hiện trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó.
Bản chất, nội dung và phương hướng của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa…” Theo James Anderson (2003): “Chính sách là một quá trình hành động có mục đích theo đuổi bởi một hoặc nhiều chủ thể trong việc giải quyết các vấn đề mà họ quan tâm”. Như vậy, có thể hiểu: Chính sách là các nguyên tắc, phương pháp cụ thể được thực hiện bởi một hoặc nhiều chủ thể trong một thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi thẩm quyền của người đó. Khái niệm chính sách kế toán Theo VAS 29 (2005): “Chính sách kế toán là các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể được DN áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC”. Định nghĩa về chính sách kế toán của VAS cũng tương tự như định nghĩa được đưa ra bởi IAS 8 (2003): “Chính sách kế toán bao gồm các nguyên tắc, cơ sở, hướng dẫn, quy định luật lệ và các thực tiễn đặc biệt được DN áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC”.
Sự lựa chọn CSKT Từ những định nghĩa bên trên, sự lựa chọn CSKT được hiểu là việc lựa chọn có cân nhắc nằm trong khuôn khổ của chuẩn mực kế toán về các nguyên tắc, cơ sở và phương pháp kế toán cụ thể mà DN có thể áp dụng trong việc lập và trình bày BCTC nhằm đạt được mục tiêu nhất định (Szilveszter Fekete, 2010). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 16 Việc lựa chọn, áp dụng CSKT được quy định khác nhau mỗi quốc gia nhưng về căn bản vẫn dựa trên quy định của IAS 8 như sau: Trước tiên, cần căn cứ vào các chuẩn mực và hướng dẫn quy định hiện hành. Một số chính sách kế toán được xem như những nguyên tắc được thừa nhận và bắt buộc DN phải tuân thủ. Một số CSKT thì DN được lựa chọn như phương pháp khấu hao, phương pháp tính giá vốn công trình, phương pháp tính giá hàng tồn kho.
Việc lựa chọn và áp dụng các phương pháp khác nhau sẽ tác động đến thông tin trình bày trên BCTC khác nhau, từ đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Nếu không có các chuẩn mực hay hướng dẫn thì xem xét đến yêu cầu và các hướng dẫn đối với các vấn đề tương tự về các khái niệm, tiêu chuẩn ghi nhận, cách xác định tài sản, nợ phải trả, thu nhập và chi phí trong các quy định chung cho việc lập và trình bày BCTC Ban giám đốc có thể xem xét đến các chính sách của tổ chức khác có cùng đặc điểm với DN mình để xây dựng các nguyên tắc, phương pháp và các thực hành được chấp nhận trong cùng ngành. Vai trò của CSKT Đối với nhà quản trị: CSKT là công cụ đắc lực của nhà quản trị trong quá trình quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như kiểm soát, điều chỉnh lợi nhuận mong muốn của doanh nghiệp. Bên cạnh hướng đến mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp, nhà quản trị cũng cân nhắc đến các lợi ích bản thân, tìm cách đề ra CSKT sao cho thỏa mãn được mục tiêu đó. Điều này thể hiện khá rõ qua lý thuyết ủy nhiệm được nghiên cứu ở phần sau.
Đối với người hành nghề kế toán, kiểm toán: kế toán viên xử lý thông tin, số liệu và trình bày BCTC căn cứ theo CSKT mà DN đã lựa chọn, bên cạnh đó cũng góp phần đề xuất với nhà quản trị các CSKT phù hợp với mục tiêu của DN; kiểm toán viên căn cứ vào CSKT để kiểm tra, phân tích số liệu, thông tin trên BCTC do kế toán viên cung cấp từ đó đưa ra các ý kiến cho rằng CSKT đã phù hợp với quy định chuẩn mực hiện hành hay chưa TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 17 Đối với cơ quan thuế: CSKT là căn cứ để cơ quan thuế kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý các thông tin công bố trên BCTC từ đó ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán. Đối với chủ đầu tư, ngân hàng, tổ chức tín dụng: CSKT là cơ sở xem xét khả năng, tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, từ đó đưa ra các quyết định đầu tư cũng như cho vay. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn CSKT của DN Nhu cầu thông tin Kế toán cung cấp thông tin quan trọng cho các cổ đông, chủ sở hữu cũng như ban quản lý và điều hành dự án phần mềm nhằm đưa ra các định hướng đường lối phát triển DN, giúp cho việc kiểm soát hoạt động sản xuất hiệu quả. Bên cạnh đó, các chủ nợ vay cũng cần nắm thông tin của DN để kiểm soát, rà soát hoạt động cho vay hiệu quả.
Như vậy, việc đề ra CSKT cần căn cứ trên nhu cầu thông tin của các bên liên quan là cơ sở thông tin để họ đưa ra các quyết định kinh tế hiệu quả. Bosnyák (2003) và Szilveszter Fekete (2010) cũng đã thực hiện các nghiên cứu chứng minh được sự ảnh hưởng của nhân tố này. Hình ảnh doanh nghiệp Các thông tin cung cấp trên BCTC không chỉ phục vụ nhu cầu thông tin cho nhà quản lý hay cổ đông trong việc điều hành, quản lý DN mà còn là cơ sở để tạo nên hình ảnh của DN đối với cơ quan ban ngành, quần chúng (nghiên cứu của Watts và Zimmerman 1990), với các cổ đông hiện tại và tiềm năng (nghiên cứu của Christos Tzovas 2006), các đơn vị xin vay vốn, trợ cấp (Szilveszter Fekete 2010), …Sự lựa chọn CSKT phù hợp sẽ giúp cho DN được đánh giá tốt hơn, từ đó dễ dàng đạt được các mục tiêu đề ra. Bên cạnh việc tối đa hóa lợi ích của DN, nhà quản trị cũng như ban quản lý điều hành dự án cũng tìm cách tối đa lợi ích của bản thân sao cho có thể nâng cao mức lương, thưởng đặc biệt với các DN có chính sách thưởng tỷ lệ với lợi nhuận trên BCTC (nghiên cứu của Steven Young 1998, Michael J.Aitken và Janice A.
TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 18 Sự ghi nhận kế toán DN lựa chọn CSKT sao cho khi ghi nhận các nghiệp vụ kế toán có thể đạt được mục tiêu trong việc phản ánh tốt đặc điểm nguồn lực của tổ chức hay hướng đến việc phản ánh trung thực và hợp lý BCTC theo Luật kế toán cũng như tuân thủ các chuẩn mực. Bên cạnh đó, trình độ và sự chuyên nghiệp của kế toán viên cũng có tác động đến sự lựa chọn CSKT, giúp tránh các sai phạm nghiệm trọng dẫn đến những khoản phạt hành chính cho DN và hơn nữa là nhận được sự chấp nhận của kiểm toán viên và thanh tra thuế đối với BCTC của DN. Tuy nhiên, một số kế toán viên thường e ngại và có thái độ không ủng hộ với sự đổi mới do họ đã quen với kế toán truyền thống và cho rằng việc đối mới chỉ làm phức tạp hóa công tác kế toán DN. Do đó, thái độ cũng như kinh nghiệm của kế toán viên cũng có tác động đến việc xây dựng CSKT của DN.
Bosnyák (2003) và Szilveszter Fekete (2010) cũng đã thực hiện các nghiên cứu chứng minh được sự ảnh hưởng của nhân tố sự ghi nhận kế toán đến việc lựa chọn CSKT. Đặc điểm ngành nghề kinh doanh Mặc dù việc xây dựng CSKT được xem là quan trọng, thiết yếu cho tất cả các DN nhưng mỗi DN tùy thuộc vào từng ngành nghề, đặc điểm lĩnh vực sản xuất kinh doanh cụ thể để xây dựng CSKT khác nhau sao cho đạt được mục tiêu, chiến lược DN đặt ra. Ví dụ, các DN kinh doanh dịch vụ có cách ghi nhận kế toán khác biệt so với DN sản xuất về doanh thu, giá vốn, các khoản thuế từ đó ảnh hưởng đến việc xây dựng CSKT khác nhau. Nhân tố này được tìm ra trong lý thuyết dự phòng nhưng chủ yếu được nghiên cứu sâu trong mảng kế toán quản trị bởi Otley (1980), Waterhouse và Tiessen (1978).
Đặc điểm DN sản xuất phần mềm ảnh hưởng đến việc lựa chọn CSKT Khái niệm sản xuất phần mềm “Phần mềm (hay sản phẩm phần mềm) là một tập hợp gồm những câu lệnh hoặc chỉ thị được viết bằng một hoặc nhiều ngôn ngữ lập trình, theo một trật tự xác TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 19 định, và các dữ liệu hay tài liệu liên quan nhằm thực hiện một số nhiệm vụ hay chức năng hoặc giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó” (Thông tư 16/2014/TT-BTC). “Sản phẩm phần mềm là phần mềm và tài liệu kèm theo được sản xuất và được thể hiện hay lưu trữ ở bất kỳ một dạng vật thể nào, có thể được mua bán hoặc chuyển giao cho đối tượng khác khai thác, sử dụng” (Nghị định số 71/2007/NĐ-CP) Quy trình sản xuất phần mềm “Hoạt động sản xuất sản phẩm phần mềm đáp ứng đúng quy trình là hoạt động của tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có tư cách pháp nhân theo quy định pháp luật, tham gia thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quy trình sản xuất sản phẩm phần mềm nhằm tạo mới hoặc nâng cấp, chỉnh sửa, hoàn thiện sản phẩm phần mềm.