đặt vấn đề và sự cấp thiết của nghiên cứu được tác giả lựa chọn. Mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể của đề tài để giải quyết các câu hỏi nghiên cứu: Những nhân tố nào ảnh hưởng tới chất lượng thẩm định DNNVV trong hoạt động cho vay tại BIDV? Mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến chất lượng thẩm định DNNVV trong hoạt động cho vay tại BIDV như thế nào? Những hàm ý quản trị nào để nâng cao chất lượng thẩm định DNNVV trong hoạt động cho vay tại BIDV? Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp thực hiện nghiên cứu sẽ được làm rõ trong các chương sau. Một số đóng góp của đề tài về lý luận và thực tiễn. 8 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.
Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm hoạt động cho vay của ngân hàng thương mại Hoạt động cho vay của NHTM là hoạt động kinh doanh chủ yếu để tạo ra lợi nhuận. Doanh thu từ hoạt động này bù đắp các chi phí tiền gửi, chi phí dự trữ, chi phí kinh doanh và quản lý, chi phí vốn trôi nổi, chi phí thuế các loại và các chi phí rủi ro đầu tư. Hoạt động cho vay của NHTM là một lĩnh vực phức tạp và thường xuyên cập nhật theo những biến chuyển của môi trường kinh tế.
Theo Luật các tổ chức tín dụng 2010 giải thích "cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào một mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi". Cho vay là một trong những hình thức của nghiệp vụ tín dụng, là hoạt động sinh lời lớn nhất song tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất đối với NHTM vì vậy hoạt động cho vay cần được đảm bảo an toàn và hiệu quả. Với xu hướng phát triển của nền kinh tế, các doanh nghiệp đang phát triển với số lượng lớn, nhu cầu vay vốn là rất lớn, đòi hỏi ngân hàng phải có quy trình quản lý chặt chẽ để hạn chế rủi ro tín dụng trong đó quy trình thẩm định cho vay là một trong những bước quan trọng. Mục tiêu quản lý khoản mục cho vay thống nhất với mục tiêu chung của ngân hàng trên cơ sở đảm bảo an toàn.
Ngân hàng trao quyền sử dụng vốn cho khách hàng, khách hàng sử dụng vốn để đầu tư, sản xuất kinh doanh tạo lợi nhuận và đảm bảo trả nợ gốc và lãi cho ngân hàng trong khoảng thời gian xác định. Từ những nội dung trên, có thể hiểu "hoạt động cho vay của NHTM là việc ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền và khách hàng phải cam kết sử dụng tiền vào mục đích xác định, trong một khoảng thời gian xác định phải hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng". Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa 2. Khái niệm doanh nghiệp nhỏ và vừa Khái niệm về DNNVV liên quan đến các tiêu chí xác định và phân loại doanh nghiệp theo quy mô, các tiêu chí xác định này được nêu rõ ràng trong các văn bản được pháp luật quy định như sau: Tại Điều 4, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (2017) quy định: “1.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa bao gồm doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa, có số lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm không quá 200 người và đáp ứng một trong hai tiêu chí sau đây: a) Tổng nguồn vốn không quá 100 tỷ đồng; b) Tổng doanh thu của năm trước liền kề không quá 300 tỷ đồng. Doanh nghiệp siêu nhỏ, doanh nghiệp nhỏ và doanh nghiệp vừa được xác định theo lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản; công nghiệp và xây dựng; thương mại và dịch vụ. Chính phủ quy định chi tiết Điều này.” Tại Điều 6, Nghị định 39/2018/NĐ-CP ngày 11/3/2018 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa (2017) được tác giả tổng hợp trong Bảng 2. Tiêu chí xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa Lĩnh vực Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ - Nông nghiệp - số lao động tham - số lao động tham - số lao động tham - Lâm nghiệp gia bảo hiểm xã hội gia bảo hiểm xã hội gia bảo hiểm xã hội - Thủy sản bình quân năm ≤ 10 bình quân năm >10 bình quân năm >100 - Công nghiệp người - 100 người - 200 người - Xây dựng - tổng doanh thu của - tổng doanh thu của - tổng doanh thu của năm ≤ 3 tỷ đồng năm >3 - 50 tỷ đồng năm >50 - 200 tỷ hoặc tổng nguồn hoặc tổng nguồn đồng hoặc tổng 10 Lĩnh vực Doanh nghiệp siêu Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa nhỏ vốn ≤ 3 tỷ đồng vốn >3 - 20 tỷ đồng nguồn vốn >20- 100 tỷ đồng Thương mại, - số lao động tham - số lao động tham - số lao động tham dịch vụ gia bảo hiểm xã hội gia bảo hiểm xã hội gia bảo hiểm xã hội bình quân năm ≤ 10 bình quân năm >10 bình quân năm >10 người - 100 người -100 người - tổng doanh thu của - tổng doanh thu của - tổng doanh thu của năm ≤ 10 tỷ đồng năm >10 - 100 tỷ năm >100 - 300 tỷ hoặc tổng nguồn đồng hoặc tổng đồng hoặc tổng vốn ≤ 3 tỷ đồng nguồn vốn >3 - 50 nguồn vốn >50- tỷ đồng 100 tỷ đồng (Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Nghị định 39/2018/NĐ-CP) Căn cứ các tiêu chí người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân năm, tổng doanh thu hoặc tổng nguồn vốn để xác định và phân loại các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa Hiện nay, các DNNVV tại Việt Nam đang phát triển với tốc độ nhanh chóng với nhiều hình thức ở nhiều lĩnh vực khác nhau và đang trở thành lực lượng đáng kể trong sự phát triển kinh tế - xã hội. Một số đặc điểm của DNNVV như sau: - DNNVV được thành lập dễ dàng do đặc điểm không đòi hỏi nhiều vốn, số lượng lao động nhỏ, cơ sở hạ tầng không đòi hỏi quá cao. - DNNVV có nhiều hướng phát triển vào các hoạt động kinh doanh mới mang tính rủi ro cao vì tính chất quy mô nhỏ và vừa, khó cạnh tranh với các doanh nghiệp lớn trong các hoạt động kinh doanh thông thường. - Là loại hình chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu doanh nghiệp, kinh doanh rộng rãi ở nhiều lĩnh vực, cung cấp các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ thiết yếu tạo sự 11 cạnh tranh công bằng, tự do cho nền kinh tế.
Góp phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng trong một quốc gia, góp phần quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước. - Là các doanh nghiệp có tính linh hoạt cao, năng động, dễ thích ứng với sự thay đổi của thị trường, từ các ưu điểm về quy mô nhỏ, gọn, dễ quản lý các DNNVV dễ thích ứng với sự thay đổi, từ thay đổi phương án sản xuất kinh doanh, mặt hàng, xu hướng, chiến lược, cơ cấu lao động, từ đó dễ dàng xâm nhập các thị trường ngách hiệu quả (Nguyễn Thế Anh, 2018). - Tuy nhiên, vì quy mô DNNVV nên tiềm ẩn nhiều bất lợi và rủi ro, các doanh nghiệp luôn trong tình trạng thiếu vốn và khả năng thu lợi nhuận có thể bị giới hạn, khả năng tiếp cận với thị trường bị hạn chế do các chi phí quảng cáo khá cao. Nguồn lực nhỏ dẫn tới trình độ kỹ thuật và công nghệ không cao, cơ sở vật chất không đáp ứng được thị trường, khó cạnh tranh với các doanh nghiệp quy mô lớn.
Trình độ nhân lực tại các DNNVV còn nhiều hạn chế, chưa có tầm nhìn lập kế hoạch và các phương án kinh doanh dẫn đến các cơ hội phát triển có thể bị bỏ lỡ. Từ những đặc điểm trên của DNNVV cho thấy vai trò quan trọng của DNNVV trong nền kinh tế cũng như đối với các chủ thể khác nhau trong nền kinh tế. Hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa DNNVV là một trong những chủ thể của nền kinh tế - xã hội và chiếm vị trí quan trọng trong danh mục khách hàng vay vốn của các NHTM. Từ khái niệm hoạt động cho vay của NHTM, tác giả rút ra “hoạt động cho vay của NHTM đối với DNNVV là việc ngân hàng giao hoặc cam kết giao cho DNNVV một khoản tiền và DNNVV phải cam kết sử dụng tiền vào mục đích xác định, trong một khoảng thời gian xác định phải hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng”.
Một số các đặc điểm của hoạt động cho vay đối với DNNVV của NHTM như sau: 12 - Các DNNVV có nhu cầu vốn lớn tuy nhiên nếu xét về quy mô doanh nghiệp thì khoản vay đó thực sự không lớn đối với các ngân hàng. Vậy nên, các ngân hàng luôn đáp ứng được các nhu cầu này tại bất kỳ thời điểm nào mà không gặp bất kỳ vấn đề gì về thanh khoản (Nguyễn Thế Anh, 2018). - Rủi ro cho vay đối với DNNVV cao do rủi ro mất vốn cao, các doanh nghiệp không đủ khả năng đáp ứng các điều kiện tối thiểu của ngân hàng. - Do số lượng các DNNVV lớn và với tốc độ tăng trưởng của số lượng DNNVV thì dư nợ của các khoản vay này trong từng ngân hàng cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng dư nợ của khách hàng.
- Rủi ro về nợ quá hạn đối với các khoản vay từ DNNVV cũng khá cao, vì quy mô nhỏ và vừa, các doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc thanh toán nợ với ngân hàng dẫn đến phát sinh nợ quá hạn đối với ngân hàng. Tuy nhiên do giá trị của các khoản vay không quá cao nên rủi ro nợ quá hạn không có khả năng làm ngân hàng phá sản so với doanh nghiệp có quy mô lớn gây ra. - Khả năng sinh lời từ các DNNVV tốt do có những doanh nghiệp làm ăn rất hiệu quả. Với loại hình doanh nghiệp này, các ngân hàng thường áp dụng một lãi suất cao hơn so với các doanh nghiệp lớn.
Giá trị của một món vay tuy không lớn nhưng có khả năng lấy số lượng bù quy mô (Nguyễn Thế Anh, 2018). - Chi phí thẩm định bình quân đối với một món vay của các DNNVV thường cao do dư nợ thấp trong khi vẫn phải đảm bảo các bước của quy trình tín dụng.