CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước 1.1 Các nghiên cứu nước ngoài: Theo Onuorah, Anastasia Chi-Chi (2015), nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp và chất lượng báo cáo tài chính tại các công ty ở Nigeria thì cho thấy rằng trong ngắn hạn, mục tiêu quản trị doanh nghiệp và chất lượng kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng của các báo cáo tài chính giữa các doanh nghiệp tại Nigeria. Tác giả Hassan (2013) nghiên cứu về chất lượng báo cáo tài chính, vấn đề đặc điểm giám sát, phân tích thực nghiệm ở các DN sản xuất tại Nigeria, nghiên cứu này xem xét tác động của các đặc điểm giám sát (tách rời quyền lực của hội đồng quản trị và cơ quan kiểm toán độc lập) về chất lượng báo cáo tài chính của các công ty niêm yết ở Nigeria. Nghiên cứu này chỉ rõ chất lượng BCTC của các công ty ở Nigeria có khả năng bị ảnh hưởng bởi đặc điểm giám sát của họ. Theo tác giả Albert and Serban (2012), nghiên cứu tại các DNNVV ở Roma, kết quả cho thấy kiểm toán độc lập có tầm quan trọng đặc biệt đối với độ tin cậy của BCTC do DNNVV cung cấp, nâng cao niềm tin của người sử dụng BCTC khi đưa ra quyết định.
Trong nghiên cứu của Muhamad và cộng sự (2009) về chất lượng thông tin công bố tại 159 công ty niêm yết ở Malaysia thì các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin công bố bao gồm: HĐQT, ban kiểm soát, kiểm toán độc lập, quy mô doanh nghiệp, ngành công nghiệp. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố quy mô doanh nghiệp, ngành công nghiệp và đòn bẩy tài chính có tác động đến chất lượng thông tin công bố. Theo Stainbank (2008), nghiên cứu về tác động của IFRS đến BCTC của các DNNVV ở Nam Phi, kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ, 7 thu hút nguồn vốn tốt nhất khi lập BCTC tuân thủ theo chuẩn mực của IFRS. Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc thực hiện công tác kế toán tuân thủ theo đúng chuẩn mực sẽ giúp người sử dụng có niềm tin hơn với BCTC của DNNVV.
Trong nghiên cứu của Jara and Ebrero (2007) về ảnh hưởng của chuẩn mực BCTC quốc tế về chất lượng thông tin tài chính thì phân tích chất lượng thông tin tài chính trong việc sử dụng các tỷ số tài chính, đồng thời phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC. Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ suất sinh lời, tỷ suất hoạt động, cơ cấu tổ chức và người lao động có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC. Theo Soderstrom & Sun (2007) nghiên cứu về áp dụng và chất lượng kế toán tại Châu Âu thì chất lượng thông tin kế toán trên BCTC khi áp dụng IFRS bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chuẩn mực kế toán, hệ thống pháp luật và chính trị của một quốc gia, động cơ báo báo tài chính. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, yếu tố hệ thống pháp luật và chính trị của một nước có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng BCTC.
Hongjiang Xu (2003) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin (AIS) BCTC trong các DN tại Australia. Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhóm nhân tố liên quan như: nhân tố con người (đào tạo và huấn luyện nhân viên), hệ thống kiểm soát, doanh nghiệp (quy mô doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp) và nhân tố bên ngoài (sự thay đổi công nghệ, thay đổi pháp lý, các quy định của chính phủ) thực sự có tác động đến chất lượng thông tin BCTC. Tác giả Heidi (2001) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC đã chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng một BCTC bao gồm: quyết định của nhà quản trị (như quyết định về chính sách kế toán áp dụng), cơ chế quản lý bên ngoài (như chất lượng kiểm toán, chính phủ ), cơ chế quản trị nội bộ, các quy định về BCTC, nhu cầu và mục đích của người sử dụng báo cáo (chủ sở hữu, nhà đầu tư, vay nợ ngân hàng, nhà cung cấp, nhân viên, khách hàng. Nghiên cứu chỉ rõ, có 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC bao gồm 8 nhân tố bên trong (quyết định của nhà quản trị, người lập BCTC) và nhân tố bên ngoài (tổ chức kiểm toán, quy định của chính phủ).1: Bảng tóm tắt các công trình nghiên cứu nước ngoài Tên tác Năm phát Tên công trình Nội dung/Kết quả giả hành Onuorah, 2015 Financial Reporting Trong ngắn hạn, mục Anastasia Quality, Does Monitoring tiêu quản trị doanh Chi-Chi Characteristics Matter? nghiệp và chất lượng An Empirical Analysis of kiểm toán ảnh hưởng Nigerian Manufacturing đến chất lượng của các Sector báo cáo tài chính giữa các doanh nghiệp Hassan 2013 Financial Reporting Chất lượng BCTC của Quality, Does Monitoring các công ty ở Nigeria có Characteristics Matter? khả năng bị ảnh hưởng An Empirical Analysis of bởi đặc điểm giám sát Nigerian Manufacturing của họ Sector Albert and 2012 Small and medium Kiểm toán độc lập có Serban auditing entities: Specific tầm quan trọng đặc biệt and outlock đối với độ tin cậy của BCTC do DNNVV cung cấp, nâng cao niềm tin của người sử dụng BCTC khi đưa ra quyết định 9 Muhamad 2009 Disclosure Quality on Nhân tố quy mô doanh và cộng sự Governance Issue in nghiệp, ngành công Annual Reports of nghiệp và đòn bẩy tài Malaysia PLCs chính có tác động đến chất lượng thông tin công bố Stainbank 2008 The development of Việc thực hiện công tác financial reporting for kế toán tuân thủ theo smes in south Africa: đúng chuẩn mực sẽ giúp implications of recent người sử dụng có niềm and impending changes tin hơn với BCTC của DNNVV Jara and 2007 Effect of international Tỷ suất sinh lời, tỷ suất Ebrero financial reporting hoạt động, cơ cấu tổ standards on financial chức và người lao động information quality có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC Soderstro 2007 IFRS Adoption and Yếu tố hệ thống pháp m & Sun Accouting Quality: A luật và và chính trị của Review.European một nước có ảnh hưởng Accouting Review trực tiếp đến chất lượng BCTC Hongjiang 2003 Critical success factors Nhân tố con người, hệ Xu for accounting thống kiểm soát , doanh information systems data nghiệp, nhân tố bên quality ngoài có tác động đến 10 chất lượng thông tin BCTC Heidi 2001 What factors influence Có 2 nhóm nhân tố ảnh financial statement hưởng đến chất lượng quality? A framework BCTC bao gồm nhân and some empirical tố bên trong ( quyết evidence định của nhà quản trị, người lập BCTC) và nhân tố bên ngoài ( tổ chức kiểm toán, quy định của chính phủ) 1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam Tại Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu chính thống nào về các nhân tố ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của công ty vừa và nhỏ.
Tuy nhiên, có khá nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến báo cáo tài chính nói chung. Theo nghiên cứu Nguyễn Xuân Hưng & Phạm Quốc Thuần (2016) nghiên cứu về tác động của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến tính thích đáng của chất lượng thông tin kế toán trên BCTC. Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm có 4 nhân tố bên ngoài tác động đến tính thích đáng của chất lượng BCTC bao gồm: áp lực từ thuế, niêm yết chứng khoán, kiểm toán độc lập và chất lượng phần mềm kế toán. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 3 nhân tố tác động đến thuộc tính tính thích đáng của CLTT BCTC trong các DN Việt Nam, trong đó nhân tố áp lực từ thuế là tác động mạnh nhất với beta=- 0.373, kế tiếp là kiểm toán độc lập, và chất lượng PMKT xếp ở vị trí cuối cùng.
Với hệ số R2 đã diều chỉnh=0. Nghiên cứu giúp khẳng định tầm quan trọng của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến thuộc tính tính chính đáng của CLTT 11 BCTC khi nó giải thích được đến 32.4% biến thiên của CLTT BCTC xét trên khía cạnh tính chính đáng. Theo nghiên cứu của Phạm Thanh Trung (2016) về đo lường mức độ tác động của các nhân tố thông tin trình bày trên BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TPHCM. Tác giả đưa vào nghiên cứu các nhân tố: hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản kế toán, hình thức sổ sách kế toán, thuế, nhà quản lý, mục tiêu lập BCTC, bộ máy kế toán.
Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 7 nhân tố đều ảnh hưởng cùng chiều với chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính. Theo nghiên cứu của Trương Thị Kim Thủy (2016) về ảnh hưởng của quản trị công ty đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TPHCM. Qua nghiên cứu định tính và tổng quan từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả đưa vào nghiên cứu các nhân tố có ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC như sau: kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch HĐQT và CEO, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, quy mô HĐQT ( số lượng thành viên HĐQT), tỷ lệ thành viên BKS có chuyên môn kế toán, tỷ lệ cổ phần của ban giám đốc, tỷ lệ cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ cổ phần của nhà nước. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch HĐQT và CEO làm giảm chất lượng thông tin kế toán trên BCTC, tỷ lệ sở hữu cổ phần của ban giám đốc cấp cao giúp nâng cao chất lượng thông tin kế toán trên BCTC.
Nghiên cứu của Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) về minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đề cập đến việc kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam. Thông qua kết quả kiểm định mô hình hồi quy cho thấy các nhân tố phản ánh đặc điểm và quản trị công ty như: đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toán và cơ cấu HĐQT ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2015) về tác động của quản trị công ty đến chất lượng thông tin BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam.