Chương 1: Cơ sở lý luận về nhận thức của sinh viên về Hoạt động thể chất. Các khái niệm cơ bản. Các lý thuyết xã hội học áp dụng trong nghiên cứu đề tài. Một số quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động thể chất.
25 Chương 2: Thực trạng nhận thức của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền về Hoạt động thể chất. Đặc điểm của mẫu nghiên cứu. Nhận thức của sinh viên về hoạt động thể chất. 29 Chương 3: Các yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức về Hoạt động thể chất của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền.
Đặc điểm nhận khẩu học ảnh hưởng đến nhận thức về hoạt động thể chất. Ngành học, năm học ảnh hưởng đến nhận thức về Hoạt động thể chất. Sự tham gia vào công tác đoàn thể, các hoạt động câu lạc bộ trong trường ảnh hưởng đến nhận thức về giáo dục thể chất. Hoạt động thể chất của sinh viên hiện nay.
49 KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ. 55 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHÁO. 63 DANH MỤC CÁC TỪ VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT Giáo dục thể chất GDTC Hoạt động thể chất HĐTC Học viện Báo chí và Tuyên Truyền HVBC&TT Thể dục thể thao TDTT Số lượng SL DANH MỤC BẢNG Bảng 2. Cơ cấu mẫu theo khối ngành, giới tính và năm học .2: Đánh giá nhận thức của sinh viên về khái niệm Hoạt động thể chất.3: Đánh giá mức độ hiểu biết của bản thân sinh viên về các nội dung của hoạt động thể chất .1: Tương quan giữa điều kiện kinh tế gia đình với nhận thức của sinh viên về Hoạt động thể chất.2: Tương quan giữa năm học với nhận thức của sinh viên về Hoạt động thể chất .3: Tương quan giữa năm học với nhận thức của sinh viên về Hoạt động thể chất .4: Tương quan giữa giới tính với hình thức rèn luyện thể chất .5: Tương quan giữa giới tính với mục đích tham gia Hoạt động thể chất.6: Đánh giá của sinh viên về các trung tâm thể hình có trả phí.
53 DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 2.1: Tần suất sinh viên nghe đến cụm từ hoạt động thể chất .2: Kênh thông tin sinh viên nghe đến cụm từ Hoạt động thể chất.3: Đánh giá nhận thức của sinh viên về ảnh hưởng của Hoạt động thể chất .4: Đánh giá nhận thức của sinh viên về lợi ích của Hoạt động thể chất .5: Đánh giá của sinh viên về những lý do cơ bản khiến sinh viên chưa tham gia hoạt động thể chất .6: Đánh giá của sinh viên về những yếu tố nhà trường cần tập trung để thúc đẩy Hoạt động thể chất.1: Mức độ đồng ý của nam/nữ sinh viên với các nhận định về Hoạt động thể chất .2: Thực trạng hoạt động thể chất tại trung tâm thể hình của sinh viên. Tính cấp thiết của đề tài Theo một nghiên cứu khoa học được đăng tải trên tạp chí Y khoa The Lancet (Anh), có khoảng 1/3 số người trưởng thành trên khắp thế giới mắc “bệnh” lười vận động. Và Việt Nam được xếp vào nhóm những nước lười vận động nhất với chỉ khoảng 15,3% người dân tập thể dục nhiều hơn ba mươi phút mỗi ngày. Mặc dù hiểu rõ việc thường xuyên vận động có thể giúp nâng cao tầm vóc và rèn luyện sức khỏe, song nhiều người, đặc biệt là cư dân đô thị và giới trẻ thành phố, vẫn bỏ qua thói quen quan trọng này.
Với đa số bạn trẻ, vận động không phải điều bắt buộc. Ở độ tuổi này, các bạn thường có sức đề kháng tốt, cơ thể dẻo dai, ăn uống ngon miệng, do vậy tập thể dục thể thao để tăng cường sức khỏe chưa được xem trọng. Ngay cả khi cần giữ vóc dáng theo ý muốn cá nhân, nhiều bạn đã chọn ăn kiêng thay vì vận động. Về sức bền chung trong vận động, thanh thiếu niên nước ta xếp loại rất kém so với các nước trong khu vực.
Điều này là hệ quả của việc thiếu vận động, coi nhẹ thể dục thể thao ở độ tuổi thanh thiếu niên. Đó là chưa kể đến sự thiếu vận động còn là nguyên nhân dẫn tới hàng loạt bệnh nguy hiểm như: tim mạch, đái tháo đường, béo phì, ung thư vú, ung thư đại tràng… gây ra hậu quả 5,3 triệu người tử vong mỗi năm trên thế giới. Thói quen ít vận động cộng thêm với một lối sống sinh hoạt buông thả không lành mạnh có thể là nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ mắc ung thư ở những người trẻ ngày càng gia tăng. Theo số liệu của tổ chức WHO, Việt Nam nằm ở vị trí 78/172 quốc gia và vùng lãnh thổ với tỷ lệ tử vong vì ung thư là 110/100.000 người và nằm trong 50 nước thuộc top 2 của bản đồ ung thư.
Theo các nhà khoa học trên thế giới, từ 3 đến 10% bệnh ung thư phát sinh do rối loạn bên trong cơ thể con người và những tổn thương có tính di truyền. Còn hơn 80% ung thư có liên quan đến môi trường sống, bao gồm các thói quen như: hút thuốc lá, uống rượu, chế độ dinh dưỡng không hợp lý, thực phẩm độc hại hay ô nhiễm môi trường. Trong những yếu tố có liên quan đến ung thư từ môi trường sống thì thực phẩm “bẩn” đứng hàng đầu với khoảng 35%, tiếp đến là thuốc lá 30%. Ở nước ta, cũng như 2 một số nước châu Á, tình trạng ung thư đang có dấu hiệu trẻ hóa.
Điển hình là ung thư vú được ghi nhận trẻ hơn 10 tuổi so với các nước khu vực châu Âu, châu Mỹ. Ngoài ra, theo báo cáo quốc gia về thanh niên năm 2015, so với tầm vóc của thanh niên Việt Nam kém hơn thanh niên các nước trong khu vực như Nhật Bản, Singapore, Thái Lan. Thêm nữa, tố chất thể lực đặc biệt là sức bền chung và chỉ số công năng tim trong vận động, thanh thiếu niên của Việt Nam xếp vào mức kém và rất kém so với chuẩn quốc tế. Đây là vấn đề ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn nhân lực tương lai của đất nước.
Cuộc sống hiện đại với nhu cầu vật chất cũng như chất lượng sinh hoạt được cải thiện, HĐTC không còn chỉ đơn thuần là một hình th ức rèn luyện sức khỏe, nó còn được gán cho những ý nghĩa về lối sống “năng động” “hiện đại” của thế hệ thanh niên hiện nay. Ngoài tham gia HĐTC trong trường học, sinh viên hiện nay đầu tư tiền cho những trung tâm thể hình tư nhân đã trở thành trào lưu rất được ưa chuộng hiện nay. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng cao đó mà những phòng tập đua nhau mọc lên như nấm, với điều kiện cơ sở vật chất vô cùng hiện đại mà đồng thời với chi phí hình thức đa dạng hoàn toàn có thể phù hợp và đáp ứng nhu cầu HĐTC của sinh viên. Tuy vậy, nhiều bạn trẻ đến phòng tập thể đơn thuần vì muốn thể hiện bản thân, theo kịp lối sống và trào lưu năng động; do đó mặc dù điều kiện về cơ sở vật chất ngày càng trở nên hiện đại và thuận tiện, HĐTC vẫn chưa được phát huy đúng bản chất của nó trong đời sống và tỷ lệ sức khỏe thể chất của thanh thiếu niên Việt Nam vẫn chỉ dừng lại ở mức thấp đến trung bình theo tỷ lệ của Tổ chức Y tế thế giới (WHO).
Đất nước ta là quốc gia có dân số “trẻ”, lực lượng lao động là thanh niên chiếm khoảng 70% tổng số lao động trong xã hội, do vậy, sự phát triển của đất nước phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nhân lực chính là những thanh niên đang chuẩn bị bước vào độ tuổi lao động. Không chỉ cần tập trung phát triển về mặt kỹ năng; yếu tố về sức khỏe, thể chất hiện nay cũng cần được xem là một trong những vấn đề cần quan tâm. Nhận thức được thực trạng thanh niên hiện nay đang có xu hướng bỏ qua việc tham gia rèn luyện thể chất trong cuộc sống của họ, đeều này có thể là yếu tố cản trở thanh niên khỏi những cơ hội để phát triển bản thân cũng 3 như đóng góp cho xã hội. Từ lý do đó tôi quyết định lựa chọn đề tài “Nhận thức của sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền về hoạt động thể chất” với mục đích làm rõ nhận thức của sinh viên về hoạt động thể chất và tìm hiểu những yếu tố ảnh hưởng đến nhận thức đó.
Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Hướng nghiên cứu về thực trạng công tác giáo dục thể chất của các trường đại học Trong báo cáo quốc gia về thanh niên Việt Nam của Bộ Nội Vụ và Quỹ dân số Liên hợp quốc tại Việt Nam năm 2015 có đề cập đến thực trạng rèn luyện thể dục thể thao (TDTT) của thanh niên trong độ tuổi từ 16-24. Nhìn chung, báo cáo chỉ ra nhóm tuổi từ 16-19 có tỷ lệ tập TDTT rất thường xuyên/thường xuyên hơn nhóm tuổi từ 20-24. Nam thanh niên có hoạt động TDTT thường xuyên hơn nữ thanh niên và thành niên thành thị có mức độ tập thể thao rất thường xuyên cao hơn so với thanh niên nông thôn (8,4% so với 5,9%).
Ngoải ra, đối với tỷ lệ tự đánh giá tình trạng sức khỏe của bản thân, có sự khác biệt về giới tính cụ thể 56,5% nam thanh niên cho rằng sức khỏe của họ rất tốt và tốt trong khi tỷ lệ này ở nữ giới chỉ là 44,3%. Về khu vực sống, thanh niên sống ở vùng đô thị đánh giá tình trạng sức khỏe của bản thân tốt hơn so với khu vực nông thôn. Báo cáo cũng có đề cập đến một số hành vi nguy cơ có ảnh hưởng đến sức khỏe của thanh niên như hút thuốc lá, sử dụng rượu bia: trong nhóm tuổi 16-19 là 18,2% và trong nhóm tuổi 20-24 là 33% từng hút thuốc lá; tỷ lệ thanh niên từng say rượu bia trong nhóm tuổi 16-19 là 41,7% và trong nhóm tuổi 20-24 là 58,1% [14]. Bài viết “Thực trạng công tác giáo dục thể chất ở Học viện Nông nghiệp Việt Nam” đăng trên tạp chí Khoa học và Phát triển năm 2014 của tác giả Nguyễn Văn Toản đã chỉ ra những hạn chế trong công tác GDTC trong nhà trường đó là: Giảng viên còn thiếu, ít được bồi dưỡng chuyên môn; Cơ sở vật chất phục vụ học tập thiếu và đã xuống cấp; Sinh viên tham gia hoạt động ở các câu lạc bộ TDTT còn rất ít.
Phương pháp nghiên cứu được thực hiện chủ yếu là phân tích thống kê mô tả và phân tích thống kê so sánh đối với kết quả học tập của hơn 35 nghìn sinh 4 viên học tập các nội dung GDTC trong hai năm học 2012-2013, 2013-2014; kết hợp trao đổi phòng vấn các giảng viên GDTC và các sinh viên.