Khóa luận: Khảo sát nhận thức, thái độ của người bán thuốc về chăm sóc dược

Khóa luận khảo sát nhận thức, thái độ của người bán thuốc về dịch vụ chăm sóc dược tại nhà thuốc. Phân tích rào cản và thực trạng cung cấp dịch vụ.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2025

86
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của chăm sóc dược tại nhà thuốc

Chăm sóc dược (Pharmaceutical Care - PCS) là một khái niệm quan trọng trong ngành dược học hiện đại. Đây là quá trình mà dược sĩnhân viên nhà thuốc cung cấp các dịch vụ hướng tới bệnh nhân nhằm cải thiện kết quả điều trị và chất lượng cuộc sống. Nhà thuốc cộng đồng đóng vai trò then chốt trong hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu, là điểm tiếp xúc gần gũi nhất với cộng đồng. Tầm quan trọng của dịch vụ chăm sóc dược không chỉ nằm ở việc bán thuốc mà còn trong việc tư vấn, hướng dẫn sử dụng thuốc đúng cách, phát hiện các vấn đề liên quan đến thuốc (DRP), và giáo dục sức khỏe cho người bệnh. Các hướng dẫn chăm sóc dược được xây dựng dựa trên tiêu chuẩn quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả điều trị và giảm biến cố dị ứng thuốc.

1.1. Khái niệm nhà thuốc và vai trò trong chăm sóc sức khỏe

Nhà thuốc là cơ sở cấp phát thuốc và cung cấp các sản phẩm dược phẩm cho cộng đồng. Theo Bộ Y tế, nhà thuốc cộng đồng được phân loại thành nhiều hình thức khác nhau. Vai trò chính của nhà thuốc bao gồm: cấp phát thuốc theo đơn và không theo đơn, tư vấn sử dụng thuốc hợp lý, phát hiện các tương tác thuốc, quản lý tác dụng phụ và giáo dục bệnh nhân về thuốc. Dược sĩ cộng đồng là những chuyên gia y tế có trách nhiệm đảm bảo an toàn, hiệu quả và tính kinh tế của liệu pháp thuốc.

1.2. Các dịch vụ chăm sóc dược chính tại nhà thuốc

Các dịch vụ chăm sóc dược tại nhà thuốc bao gồm: đánh giá sử dụng thuốc (MUR), đánh giá liệu pháp thuốc (MTA), tư vấn cá nhân hóa, giáo dục về bệnh tật và thuốc, kiểm tra tương tác thuốc, quản lý các vấn đề liên quan đến thuốc (DRP). Những dịch vụ này được triển khai tại các nước như Úc, New Zealand, Singapore với hiệu quả cao trong việc giảm nhập viện và cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

II. Nhận thức của người bán thuốc về chăm sóc dược

Nghiên cứu khảo sát nhận thức của người bán thuốc (NBT) về chăm sóc dược tại nhà thuốc cho thấy một số kết quả đáng chú ý. Nhận thức của NBT về tầm quan trọng và lợi ích của chăm sóc dược còn thay đổi tùy theo mức độ hiểu biết và đào tạo của từng cá nhân. Nhiều người bán thuốc nhận thức được rằng cung cấp dịch vụ chăm sóc dược không chỉ là trách nhiệm chuyên môn mà còn là yêu cầu của pháp luật. Tuy nhiên, còn tồn tại những khoảng trống trong hiểu biết về các hình thức cụ thể của dịch vụ này. Thái độ tích cực của NBT đối với chăm sóc dược là cơ sở quan trọng để nâng cao chất lượng dịch vụ và sự tuân thủ của bệnh nhân trong sử dụng thuốc.

2.1. Mức độ hiểu biết về khái niệm chăm sóc dược

Kết quả khảo sát cho thấy mức độ nhận thức của NBT về khái niệm chăm sóc dược có sự khác biệt theo trình độ học vấn và kinh nghiệm làm việc. Những dược sĩ có đào tạo chuyên môn cao hơn có nhận thức tốt hơn về chăm sóc dược so với nhân viên bán hàng. Tuy nhiên, ngay cả trong nhóm dược sĩ, còn nhiều người chưa nắm rõ các dịch vụ cụ thể như MUR, MTA hay quản lý DRP.

2.2. Nhân tố ảnh hưởng đến nhận thức của NBT

Các nhân tố chính ảnh hưởng đến nhận thức của NBT bao gồm: đào tạo ban đầu, các khóa tập huấn tiếp tục, kinh nghiệm thực tế, các quy định pháp luật, và sự hỗ trợ từ nhà quản lý. Các chương trình đào tạo về chăm sóc dược được chứng minh là có hiệu quả trong việc nâng cao nhận thức và kỹ năng cung cấp dịch vụ.

III. Thái độ của người bán thuốc về cung cấp dịch vụ chăm sóc dược

Thái độ của người bán thuốc đối với việc cung cấp dịch vụ chăm sóc dược là một yếu tố quan trọng quyết định sự thành công của các chương trình này. Nghiên cứu cho thấy đa số NBT có thái độ tích cực hoặc trung lập đối với chăm sóc dược. Tuy nhiên, thái độ tích cực này không luôn chuyển hóa thành hành động cụ thể do các rào cản thực tiễn như thời gian, nhân lực, kiến thức và tài nguyên. Thái độ của NBT bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: sự công nhận từ xã hội, hỗ trợ từ chính sách, môi trường làm việc, và phần thưởng kinh tế. Nâng cao thái độ tích cực của NBT cần có sự phối hợp giữa các bên liên quan bao gồm Bộ Y tế, hiệp hội dược sĩ, chủ nhà thuốc, và bản thân NBT.

3.1. Đánh giá thái độ tích cực và tiêu cực

Kết quả khảo sát cho thấy khoảng 70-80% NBT có thái độ tích cực với chăm sóc dược, nhận thấy tầm quan trọng của việc tư vấn và hướng dẫn bệnh nhân. Tuy nhiên, vẫn có một bộ phận NBT có thái độ tiêu cực hoặc không quan tâm, cho rằng đây chỉ là công việc thêm mà không mang lại lợi ích gì. Thái độ này thường xuất phát từ tình trạng quá bận rộn, thiếu trang thiết bị và không được hỗ trợ về chính sách hoặc tài chính.

3.2. Mối liên hệ giữa thái độ và hành động cung cấp dịch vụ

Thái độ tích cực của NBT không nhất thiết dẫn đến hành động cung cấp dịch vụ chăm sóc dược hiệu quả. Các rào cản bao gồm: thiếu kiến thức chuyên môn sâu, áp lực công việc hàng ngày, không có phòng kín để tư vấn, thiếu phần mềm quản lý thuốc, và không được đào tạo thường xuyên. Chính sách hỗ trợ từ nhà nước và các tổ chức ngành là chìa khóa để chuyển đổi thái độ thành hành động thực tế.

IV. Rào cản và kiến nghị để phát triển chăm sóc dược tại nhà thuốc

nhận thứcthái độ của NBT ngày càng cải thiện, vẫn tồn tại nhiều rào cản không thể bỏ qua khi cung cấp dịch vụ chăm sóc dược tại nhà thuốc cộng đồng. Rào cản chính bao gồm: thiếu tài nguyên (nhân lực, không gian), áp lực kinh tế (chi phí không được bù đắp), thiếu quy định rõ ràng từ pháp luật, thiếu sự trao quyền từ chủ nhà thuốc, và nhu cầu đào tạo liên tục. Để phát triển chăm sóc dược hiệu quả, cần có các kiến nghị cụ thể từ phía chính phủ, tổ chức ngành, và các nhà quản lý. Chương trình hỗ trợ toàn diện bao gồm đào tạo, hỗ trợ kinh tế, công nhận xã hội, và điều chỉnh chính sách là những yếu tố cần thiết để nâng cao chất lượng dịch vụ.

4.1. Các rào cản chính khi cung cấp dịch vụ chăm sóc dược

Các rào cản được xác định từ nghiên cứu bao gồm: (1) Rào cản tài chính - nhà thuốc không được bù đắp chi phí cung cấp dịch vụ; (2) Rào cản nhân lực - thiếu dược sĩ, nhân viên quá tải; (3) Rào cản không gian - không có phòng kín để tư vấn; (4) Rào cản kiến thức - thiếu đào tạo chuyên môn sâu; (5) Rào cản chính sách - chưa có quy định cụ thể và bắt buộc về chăm sóc dược.

4.2. Kiến nghị phát triển chăm sóc dược bền vững

Kiến nghị chính bao gồm: Bộ Y tế cần xây dựng quy định cụ thể về các dịch vụ chăm sóc dược bắt buộc; cấp bằng sáng chế hoặc công nhận chuyên ngành cho dược sĩ cộng đồng; tạo cơ chế bù đắp kinh tế hợp lý; tăng cường các khóa đào tạo định kỳ; hỗ trợ cơ sở vật chất cho nhà thuốc; và nâng cao nhận thức cộng đồng về lợi ích của chăm sóc dược.

28/12/2025
Bộ y tế trường đại học dược hà nội hoàng bích ngọc khảo sát nhận thức thái độ của người bán thuốc về việc cung cấp các dịch vụ chăm sóc dược tại nhà thuốc khóa luận tốt nghiệp dược sĩ người hướng dẫn 1 ts lã thị quỳnh liên

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN 1.1 Nhà thuốc và vai trò của nhà thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu 1.1 Khái niệm nhà thuốc Cơ sở bán lẻ thuốc bao gồm: nhà thuốc, quầy thuốc, đại lý bán thuốc của doanh nghiệp, tủ thuốc của trạm y tế. Cơ sở bán lẻ thuốc hợp pháp là cơ sở bán lẻ đã đươc cấp có thẩm quyền chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh thuốc (Khoản 1 Điều 24 Luật Dược) [5]. Để đảm bảo chất lượng dịch vụ dược và an toàn cho người sử dụng thuốc, Bộ Y tế quy định các Nhà thuốc phải đạt các nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc” (GPP - Good pharmacy practice) về cơ sở vật chất, nhân sự, quy trình chuyên môn và đạo đức hành nghề [6]. Thông tin về các loại hình nhà thuốc hiện nay tại Việt Nam được trình bày trong bảng sau [5-9]: Bảng 1.1: Một số các loại hình nhà thuốc hiện nay tại Việt Nam Chuỗi nhà thuốc Hộ kinh doanh Nhà thuốc Đặc điểm Mô hình Nhượng quyền riêng lẻ nhưng truyền doanh nghiệp thương hiệu cùng tên thống thương mại Một doanh nghiệp sở hữu thương hiệu và cho phép các đơn Một công ty vị khác (thường là Các nhà thuốc (thường là hộ kinh doanh hoặc mang cùng tên công ty bán công ty nhỏ) sử nhưng đăng ký Hộ kinh buôn hoặc dụng tên, hình ảnh theo hình thức doanh cá công ty mẹ) và mô hình kinh hộ kinh doanh, thể tự mở Mô tả trực tiếp sở doanh theo thỏa độc lập nhau về nhà thuốc hữu nhiều nhà thuận nhượng pháp lý và tài tại địa thuốc, mỗi nhà quyền.

phương thuốc là một Phải tuân theo hệ (không là chuỗi chi nhánh thống quản lý và theo pháp luật) kiểm soát chất lượng của bên nhượng quyền. Chủ sở Công ty/Doanh Doanh nghiệp Nhiều hộ kinh Cá nhân/hộ hữu nghiệp nhượng quyền doanh gia đình 3 Chuỗi nhà thuốc Hộ kinh doanh Nhà thuốc Đặc điểm Mô hình Nhượng quyền riêng lẻ nhưng truyền doanh nghiệp thương hiệu cùng tên thống thương mại Rất cao (đồng Thấp - trung Rất thấp Tính đồng Trung bình - cao bộ biển hiệu, bình (tùy thỏa (tự thiết kế, nhất (tuân theo quy định đồng phục, thuận, không có không theo thương hợp đồng nhượng cách phục hợp đồng ràng quy chuẩn hiệu quyền) vụ.) buộc) chung) Quản lý Tuân theo hướng Tập trung từ Không có quản và vận dẫn bên nhượng Tự quản lý trụ sở chính lý trung tâm hành quyền Có quy trình, Kiểm soát Theo tiêu chuẩn Không đồng Tự thực tiêu chuẩn chất lượng nhượng quyền nhất hiện thống nhất Rất thấp, Khả năng Rất cao (quy Cao (nếu có vốn và Tùy thuộc vào quy mô mở rộng mô toàn quốc) kiểm soát tốt) thỏa thuận nhỏ lẻ Pharmacity (Công ty Cổ phần Dược Nhà thuốc phẩm truyền Pharmacity), Nhà thuốc Minh thống do cá Medcare (đang phát Ví dụ Long Châu Tâm, Nhà thuốc nhân/hộ triển) (FPT Retail), Hồng Đức gia đình An Khang mở tại địa (Công ty Cổ phương phần Thế Giới Di Động) Tính đến nay, Việt Nam vẫn chưa có quy định cụ thể về chuỗi nhà thuốc. Gần đây nhất, Luật Dược số 44/2025/QH15 của Quốc hội (có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2025) sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dược bổ sung thêm khái niệm “chuỗi nhà thuốc” là hệ thống các nhà thuốc của một cơ sở tổ chức chuỗi nhà thuốc, hoạt động theo hệ thống quản lý chất lượng thống nhất dưới cùng một tên thương mại [10]. Cơ sở tổ chức chuỗi nhà thuốc phải đáp ứng điều kiện quy định và có từ 02 nhà thuốc trực thuộc trở lên đã được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh dược và có hệ thống quản lý chất lượng thống nhất để áp dụng đối với các nhà thuốc trong chuỗi [10].1 thấy được rằng hiện nay mô hình doanh nghiệp của chuỗi nhà 4 thuốc đang phát triển nhanh chóng và cũng đã xuất hiện thêm hình thức nhượng quyền thương hiệu.

Tuy đây là một hình thức mới được áp dụng tại Việt Nam nhưng mô hình nhượng quyền tại các nhà thuốc này đã được triển khai và rất phổ biến trên thế giới. Bên cạnh đó, hình thức hộ kinh doanh riêng lẻ nhưng cùng tên thương mại không được coi là chuỗi nhà thuốc vì không có liên kết pháp lý, không chia sẻ quản lý, không có công ty “mẹ”, và mỗi bên tự chịu trách nhiệm hoạt động riêng lẻ dẫn đến dễ xảy ra vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tuy nhiên, ở đây vẫn được đề cập đến là một hình thức chuỗi nhà thuốc bởi trong thực tế chúng vẫn thường được gọi là “chuỗi” trong cách hiểu thương mại hoặc tiếp thị và đây chính là lý do gây ra sự nhầm lẫn cho người dân. Mạng lưới cơ sở bán lẻ của Việt Nam lớn, đa dạng giúp cho người dân dễ tiếp cận.

Số cơ sở bán lẻ thuốc tư nhân trên toàn quốc năm 2024 là khoảng 60.000, trong số này, các chuỗi nhà thuốc hiện đại như Long Châu, Pharmacity, An Khang.000 cửa hàng, tương đương 5% thị phần, trong khi phần lớn còn lại là các nhà thuốc nhỏ lẻ truyền thống, chiếm khoảng 85% thị phần [11]. Các loại hình nhà thuốc trên thế giới Trên thế giới hiện nay, nhà thuốc cộng đồng được định nghĩa ở nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Anh, Canada, … bao gồm các nhà thuốc bán lẻ chủ yếu là các chuỗi nhà thuốc và các nhà thuốc truyền thống nằm ngoài các cơ sở chăm sóc sức khỏe, được coi là một phần của hệ thống chăm sóc sức khỏe [4]. Theo nghiên cứu của Hanne Herborg và cộng sự năm 2007, các nhà thuốc tại Đan Mạch do tư nhân sở hữu, nhưng hoạt động chịu sự quản lý của các cơ quan y tế về giá thuốc và số lượng nhà thuốc trên địa bàn [12]. Ngược lại, tại Vương quốc Anh, các dịch vụ dược của Cơ quan Dịch vụ Y tế Quốc gia Anh (NHS) được triển khai thông qua hợp đồng với các nhà thuốc tư nhân.

Để được tham gia cung cấp dịch vụ trong hệ thống NHS, các nhà thuốc phải đáp ứng đầy đủ và cần đảm bảo cung cấp các dịch vụ tối thiểu theo khung hợp đồng mà NHS đưa ra: - Dịch vụ thiết yếu – đây là các dịch vụ bắt buộc theo quy định của quốc gia mà các nhà thuốc phải cung cấp, bao gồm việc phân phối thuốc và dụng cụ y tế, xử lý phản ứng không mong muốn của thuốc hoặc thuốc dự phòng, tư vấn cho người bệnh về cách tự chăm sóc, tư vấn về lối sống lành mạnh và hỗ trợ về thuốc sau khi xuất viện [14]. - Dịch vụ nâng cao – đây là các dịch vụ tùy chọn mà các nhà thuốc có thể lựa chọn cung cấp. Dịch vụ được thiết lập và chỉ định trên toàn quốc và tùy chọn cung cấp dành cho tất cả các nhà thuốc, miễn là họ đáp ứng một số yêu cầu tối thiểu nhất định. 5 Các dịch vụ nâng cao hiện đang được ủy quyền thông qua khuôn khổ hợp đồng bao gồm: tiêm vắc-xin cúm, dịch vụ Thuốc mới (mục đích là giúp người bệnh hiểu và sử dụng tốt nhất một loại thuốc mới được kê đơn) và dịch vụ tư vấn dược sĩ cộng đồng mới được phát triển gần đây (cho phép một số bộ phận khác của hệ thống y tế giới thiệu người bệnh đến nhà thuốc cộng đồng để đáp ứng một số nhu cầu chăm sóc) [14].2 Vai trò của nhà thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu Ở Việt Nam, cũng như tại nhiều quốc gia đang phát triển, nhà thuốc là nơi đầu tiên người dân tìm đến khi gặp phải các vấn đề sức khỏe thông thường hoặc cần dịch vụ y tế cơ bản.

Bên cạnh vai trò cung ứng thuốc, nhà thuốc còn đảm nhiệm vai trò quan trọng trong việc tư vấn, hỗ trợ sử dụng thuốc hợp lý, đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị. Theo quy định hiện hành, chỉ có dược sĩ trình độ đại học mới đủ điều kiện mở nhà thuốc và họ được phép cung cấp cả thuốc kê đơn, không kê đơn. Bên cạnh đó, họ còn có trách nhiệm đánh giá sự phù hợp của thuốc, liều lượng, cũng như đưa ra các khuyến cáo và cảnh báo cần thiết cho người bệnh. Có thể nói, các cơ sở bán lẻ thuốc trong cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong chăm sóc sức khỏe ban đầu cho người dân.

Chiến lược phát triển ngành Dược của Tổ chức Y tế thế giới và Liên đoàn Dược phẩm Quốc tế đã chỉ ra xu hướng của hoạt động thực hành dược là hướng tới việc sử dụng thuốc trên người bệnh được an toàn, hợp lý, hiệu quả và kinh tế trong đó thực hành dược trong cộng đồng đóng một vai trò quan trọng [15].2 Chăm sóc dược tại nhà thuốc cộng đồng 1.1 Một số khái niệm về chăm sóc dược tại nhà thuốc cộng đồng v Chăm sóc dược Khái niệm "Chăm sóc Dược" (Pharmaceutical Care) lần đầu tiên được đề cập vào năm 1975 bởi Mikeal và cộng sự tại Hoa Kỳ. Theo định nghĩa ban đầu, chăm sóc dược là "sự chăm sóc mà một người bệnh cụ thể yêu cầu và nhận được nhằm đảm bảo việc sử dụng thuốc một cách an toàn và hợp lý" [16]. Khái niệm này đã đặt nền móng cho sự phát triển của thực hành dược lâm sàng hiện đại, nhấn mạnh vai trò của người bán thuốc trong việc đảm bảo hiệu quả và an toàn trong sử dụng thuốc cho người bệnh. Năm 2004, trong cuốn “Pharmaceutical Care Practice – The Clinician Guide” đã hoàn thiện định nghĩa chăm sóc dược một cách đầy đủ và khái quát hơn: Chăm sóc dược là một lĩnh vực thực hành lấy người bệnh làm trung tâm, trong đó chuyên gia y tế có trách nhiệm về các nhu cầu liên quan đến thuốc của người bệnh và luôn phải đảm bảo hoàn thành trách nhiệm đó [3].

6 Đến năm 2013, sau quá trình lấy ý kiến đồng thuận của các chuyên gia, PCNE (Pharmaceutical Care Network Europe) đã định nghĩa lại chăm sóc dược là "sự đóng góp của dược sĩ vào việc chăm sóc cá nhân nhằm tối ưu hóa việc sử dụng thuốc và cải thiện kết quả sức khỏe" thì trong Pharmaceutical Care Services Guidelines 2019 tại Singapore đề cập định nghĩa Dịch vụ chăm sóc dược (PCS) là “dịch vụ lấy người bệnh làm trung tâm nhằm mục đích trao quyền người bệnh và/hoặc người chăm sóc chịu trách nhiệm về nhu cầu dùng thuốc của họ và đạt được kết quả tốt nhất”[13-14]. v Dược sĩ cộng đồng Dược sĩ cộng đồng hiện được công nhận là nhóm chuyên gia chăm sóc sức khỏe lớn thứ ba trên thế giới, chỉ đứng sau bác sĩ và y tá. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã xác định rằng: “Dược sĩ cộng đồng là các chuyên gia y tế dễ tiếp cận nhất với công chúng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ