Chương I đã khái quát mục tiêu nghiên cứu, đó là những yếu tố nào ảnh hưởng đến hành vi hút thuốc và nếu như có nhận thức đầy đủ những rủi ro có thể xảy khi tiêu dùng thuốc lá thì thái độ, nhận thức, hành vi và mức độ hút thuốc lá của nam thanh niên sẽ như thế nào? Nội dung Chương II trình bày các lý thuyết liên quan đến nhận thức, thái độ, hành vi làm cơ sở đánh giá, giải thích việc hình thành nên nhận thức, thái độ, hành vi của người tiêu dùng. Đồng thời trình bày các khái niệm có liên quan đến việc hút thuốc lá, các nghiên cứu trước đây có liên quan và các chính sách, biện pháp của Nhà nước và chính quyền địa phương trong việc thực hiện Chính sách quốc gia về phòng, chống tác hại của thuốc lá.1 Lý thuyết liên quan 2.1 Lý thuyết hành vi vấn đề Các lý thuyết về hành động lý luận cho rằng ý định (động lực) để thực hiện một hành vi nhất định phụ thuộc vào việc cá nhân đánh giá các hành vi như tích cực (thái độ) và nếu họ phán xét người khác như họ muốn thực hiện hành vi (tiêu chuẩn chủ quan). Lý thuyết hành vi vấn đề, xây dựng dựa trên lý thuyết này và cho rằng tất cả các hành vi không được thực hiện dưới sự kiểm soát có mục đích và hành vi có thể được thực hiện trên một sự liên tục từ tổng kiểm soát để hoàn thành thiếu kiểm soát. Cả hai yếu tố nội bộ (kỹ năng nhận thức, kiến thức, cảm xúc) và các yếu tố bên ngoài (tình huống hoặc môi trường) xác định mức độ kiểm soát.
Lý thuyết này phân tích những vấn đề liên quan đến hành vi và từng hành vi có vấn đề. Hành vi hút thuốc lá khi đã có kiến thức, thái độ và nhận thức về rủi ro đến sức khỏe của bản thân và của cộng đồng xã hội đều coi như hành vi có vấn đề.2 Lý thuyết về hành vi dự định Lý thuyết về hành vi dự định, xây dựng bằng cách bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi vào mô hình của lý thuyết hành động hợp lý bị giới hạn khi dự đoán việc thực hiện các hành vi của người tiêu dùng mà họ không thể kiểm soát 8 được; yếu tố về thái độ đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan không đủ để giải thích cho hành động của người tiêu dùng. Lý thuyết về hành vi dự định nhấn mạnh rằng, hành vi của con người bị chi phối không chỉ bởi thái độ cá nhân, mà còn bởi các áp lực xã hội và nhận thức kiểm soát hành vi. Mô hình này, khi kết hợp với một vài thay đổi, có thể tạo ra một số dự đoán đáng chú ý.
Ví dụ, cá nhân có nhiều khả năng để thực hiện chứ không phải bỏ ý định của họ. Bên cạnh đó, lý thuyết này cho rằng tất cả các hành vi không được thực hiện bởi quyền kiểm soát có mục đích và rằng mọi hành vi có thể thực hiện liên tục theo kiểm soát dễ trở thành sự thiếu kiểm soát. Cả những yếu tố bên trong (kỹ năng nhận thức, kiến thức, cảm xúc) và những yếu tố bên ngoài (xử lý tình huống hoặc môi trường) sẽ được áp dụng nhằm xác định mức độ kiểm soát. Thành phần nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh việc dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi; điều này phụ thuộc vào sự sẵn có của các nguồn lực và các cơ hội để thực hiện hành vi.2 Một số khái niệm, quy định và thông tin liên quan 2.1 Khái niệm nhận thức, thái độ và hành vi 2.1 Nhận thức Có rất nhiều khái niệm, định nghĩa về nhận thức, như: - Nhận thức: (1) danh từ: nhận thức là quá trình và kết quả phản ánh, tái hiện hiện thực vào trong tư duy, quá trình con người nhận biết, hiểu biết thế giới khách quan hoặc kết quả của quá trình đó.
- Nhận thức: nhờ hoạt động nhận thức mà con người phản ánh hiện thực xung quanh ta và các hiện thực của bản thân ta, trên cơ sở đó con người tỏ thái độ tình cảm và hành động. Trong việc nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp (Giáo trình Tâm lý học đại cương, NXB Đại học Sư phạm).2 Thái độ Thái độ (danh từ): (1) là tổng thể chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng 9 nét mặt, cử chỉ, hành động, lời nói) của ý nghĩ, tình cảm của con người đối với người hoặc việc.3 Hành vi Hành vi (danh từ) là toàn bộ nói chung những phản ứng, cách ứng xử, biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể nhất định.1 Thuốc lá Thuốc lá là một loại cây có độc, nhất là những lá già, có hàm lượng Nicotin cao. Theo quy định tại Điểm 1 Điều 2 Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội về Phòng, Chống tác hại của thuốc lá, thuốc lá là sản phẩm được sản xuất từ toàn bộ hoặc một phần nguyên liệu thuốc lá, được chế biến dưới dạng thuốc lá điếu, xì gà, thuốc lá sợi, thuốc lào hoặc các dạng khác.2 Sử dụng thuốc lá Sử dụng thuốc lá là hành vi hút, nhai, ngửi, hít, ngậm sản phẩm thuốc lá (Theo quy định tại Điểm 2 Điều 2 Luật số 09/2012/QH13 ngày 18/6/2012 của Quốc hội về Phòng, Chống tác hại của thuốc lá). Hút thuốc lá là hành vi hút sản phẩm thuốc lá.
Trong phạm vi của nghiên cứu này, tác giả giới hạn sản phẩm thuốc lá ở đây là thuốc lá điếu.3 Tác hại của thuốc lá Trên toàn thế giới, mỗi năm thuốc lá gây thiệt hại khoảng 500 tỷ USD. Hút thuốc lá không chỉ gây tổn hại sức khỏe mà còn tổn thất kinh tế đối với các cá nhân, gia đình, xã hội và làm tăng gánh nặng kinh tế quốc gia. Thuốc lá độc hại còn gây ra chi phí khổng lồ chăm sóc y tế cùng với tổn thất do giảm hoặc mất khả năng lao động sản xuất, còn gây nên hỏa hoạn và tổn hại, gây ô nhiểm môi trường.1 Tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người: Từ những tài liệu nghiên cứu về tác hại của thuốc lá đối với sức khỏe con người cho thấy: " khi hút thuốc lá, hoặc sống chung với người hút thuốc lá, khói thuốc hít qua phổi ngấm vào máu, tích lũy lâu ngày trở thành điều kiện và nguyên nhân gây ra các bệnh tim mạch, viêm nhiểm đường hô hấp, gây tổn thương trong lòng mạch máu. Vì vậy người hút thuốc lá dể bị các bệnh như: rụng tóc, đục thủy tinh thể, da nhăn, giảm thính lực, sâu răng, ung thư da, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, loãng xương, bệnh tim mạch vàng móng tay, ung thư cổ tử cung, tinh trùng biến dạng, bệnh vảy nến, viêm tắc mạch máu, ung thư phổi và các cơ quan khác: mũi, miệng, lưỡi, tuyến nước bọt, họng, thanh quản, thực quản, thận, dương vật.Ngoài ra hút thuốc lá còn làm giảm số lượng tinh trùng, dể dẫn đến vô sinh ở nam giới; tăng nguy cơ ung thư cổ tử cung, rối loạn kinh nguyệt, ung thư vú ở phụ nữ; dễ bị còi xương, trí tuệ chậm phát triển, suy dinh dưỡng ở trẻ em".
Hút thuốc lá có hại cho sức khỏe. Tuy nhiên, tỷ lệ người hút thuốc lá đang có xu hướng tăng dần, đặc biệt ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Ở nước ta, "mỗi năm có khoảng 40.000 người tử vong vì các bệnh có liên quan đến thuốc lá và khoảng 33 triệu người không hút thuốc bị ảnh hưởng do hít khói thuốc thụ động".2 Tác hại của thuốc lá đối với môi trường và sự phát triển kinh tế - xã hội: Sự phát triển kinh tế - xã hội: "Việc hút thuốc cũng ảnh hưởng đến kinh tế quốc gia, môi trường. Đất canh tác dùng cho sản xuất các loại cây lương thực bị thu hẹp lại, nhường chổ để trồng cây thuốc lá vì có lợi nhuận cao hơn.
Một lượng giấy khổng lồ phục vụ cho việc vấn các điếu thuốc lá và các loại bao bì. Rác do thuốc lá cũng ảnh hưởng xấu đến môi trường sống. Chi phí chăm sóc y tế cho những người dân hút thuốc lá và việc giảm ngày công lao động của họ là những tổn thất rất lớn cho một quốc gia có nhiều người nghiện thuốc lá". Theo báo cáo của ngân hàng thế giới, tại các nước phát triển, chi phí chăm sóc sức khỏe do thuốc lá ước tính chiếm 6 – 15% tổng chi phí chăm sóc sức khỏe hàng năm; mức tổn thất kinh tế do thuốc lá được tính mỗi năm tại Mỹ là 184,5 tỷ USD, Đức 24,4 tỷ USD, Pháp 16,4 tỷ USD, 11 Autralia 14,2 tỷ USD.
Ngoài ra thuốc lá còn có nguy cơ gây ra những vụ hoả hoạn dữ dội và những vụ cháy rừng tàn phá tài nguyên quốc gia(Lê Hùng, 2000). Mỗi năm trên thế giới có khoảng 1,1 triệu vụ cháy do thuốc lá gây ra, trong đó có khoảng 17.300 ca tử vong, khoảng 60.000 ca thương tích và tổn thất về tài sản khoảng 27 tỷ USD (Như Loan). Ảnh hưởng kinh tế gia đình: " Người hút thuốc lá sẽ tiêu phí một khoảng tiền khá lớn để mua thuốc lá, làm ảnh hưởng đến thu nhập của gia đình, đặc biệt ở những gia đình kinh tế khó khăn. Hút thuốc lá chắc chắn sẽ gây ra những bệnh tật nguy hiểm như đã trình bày phần trên, chi phí để chăm sóc y tế cho chính bản thân người hút và người bị hút thuốc lá thụ động trong gia đình là rất lớn, có gia đình không thể chịu đựng nổi (chưa nói đến những bệnh nan y như ung thư, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính…)".3 Các nghiên cứu liên quan Theo Von Ah và cộng sự (2005), các yếu tố cá nhân, nhận thức và các nguồn lực đối phó có thể đóng một vai trò quan trọng ảnh hưởng đến việc sinh viên đại học có xu hướng bắt đầu sử dụng thuốc lá và sau đó tiếp tục sử dụng nữa.
Nghiên cứu của Nichter và cộng sự (2010) chỉ ra rằng những năm học đại học là khoảng thời gian mà nguy cơ bắt đầu hút thuốc gia tăng và việc hút thuốc trở nên thường xuyên hơn, mặc dù họ không phải là những người hút hàng ngày. Hầu hết là họ hút thuốc trong giao tiếp xã hội.