Chương 1 để giới thiệu về đề tài nghiên cứu. Nội dung cụ thể bao gồm tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài ở trong và ngoài nước; tính cấp thiết; mục tiêu; cách tiếp cận; phương pháp nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, nội dung nghiên cứu. Chương tiếp theo là Chương 2 - Cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu. Chương này tổng hợp các lý thuyết có liên quan đến các nhận thức của người học trong việc học ngữ pháp tiếng Anh theo hướng giao tiếp.
Ngoài ra, chương này cũng trình bày tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước về các nhận thức giảng dạy và học ngữ pháp tiếng Anh giao tiếp. Phương pháp nghiên cứu của đề tài sẽ được trình bày chi tiết ở Chương 3 – Phương pháp nghiên cứu. Chương này trình bày về nơi thực hiện và đối tượng nghiên cứu. Các công cụ nghiên cứu, cách thu thập và phân tích dữ liệu cũng được đề cập ở chương này.
5 Ở chương 4, kết quả đạt được từ việc phân tích dữ liệu được trình bày một cách chi tiết. Ngoài ra, thảo luận về kết quả nghiên cứu và phân tích kỹ càng vấn đề nghiên cứu là một phần quan trọng của chương này. Cuối cùng, chương 5 là nơi tác giả kết luận về kết quả của nghiên cứu. Và từ các kết luận đó, những kiến nghị và giải pháp thiết thực sẽ được đưa ra để cải thiện việc giảng dạy và học ngữ pháp tiếng Anh giao tiếp hiệu quả.
6 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tổng quan về cơ sở lý luận của đề tài 2. Khái niệm nhận thức Có nhiều quan điểm khác nhau về định nghĩa của nhận thức: Wikipedia (2008) định nghĩa nhận thức là “quá trình đạt được sự nhận thức hoặc sự hiểu biết về thông tin giác quan”. Merriam-Webster Online Thesaurus (2009) định nghĩa nhận thức là “khả năng hiểu được những phẩm chất hoặc mối quan hệ bên trong của sự việc hoặc là kiến thức thu được từ quá trình biết hoặc hiểu điều gì đó”.
Nhận thức là một trải nghiệm được cá nhân hóa duy nhất. Người ta chỉ có thể rút ra kinh nghiệm từ những gì mà chính bản mình được trải nghiệm. Trong văn học, bài thơ “Những người mù và con voi”, được viết bởi John Godfrey Saxe vào thế kỷ 19, thể hiện sự cần thiết phải tiếp xúc với một cái gì đó để có thể có bất kỳ nhận thức nào về nó. Nhận thức là quan điểm của mỗi cá nhân, từ khả năng ý thức sẽ trở thành động lực mạnh mẽ để đưa ra hành động.
Chaplin (1968) định nghĩa nhận thức như là một tiến trình hiểu biết về một sự việc nào đó thông qua các giác quan của con người, sự nhận thức liên quan đến ý thức trong niềm tin của con người về một điều gì đó. Nói tóm lại, nhận thức là sự ý thức, sự hiểu biết về một điều gì đó thông qua các giác quan của từng cá nhân hướng tới đối tượng được tiếp xúc để từ đó đưa ra các quan điểm hay sự nhìn nhận đánh giá của bản thân. Các quan điểm về kỹ năng giao tiếp (KNGT) Năng lực Ngữ pháp Tiếng Anh (Grammatical competence) là một trong bốn lĩnh vực lý thuyết năng lực giao tiếp do Canale và Swain (Gao, 2001) khởi xướng. Orwig (1999) định nghĩa khả năng sử dụng Ngữ pháp Tiếng Anh trong giao tiếp là khả năng nhận biết và tạo ra các cấu trúc ngữ pháp của một ngôn ngữ và sử dụng chúng một cách hiệu quả trong giao tiếp.
Hymes đã kết hợp quan điểm của Chomsky về năng lực ngữ pháp với quan điểm 7 riêng của ông về khả năng sử dụng ngôn ngữ để đưa ra một quan điểm khác về Kỹ năng giao tiếp (KNGT). Theo ông, năng lực giao tiếp bao gồm những năng lực về kiến thức ngôn ngữ, kiến thức về xã hội và quy ước xã hội mà ngôn ngữ đó được sử dụng. ng không đồng tình với việc phân tích KNGT dựa trên việc phân tích độc lập giữa ngữ năng (competence) và ngữ hành (performance). ng cho rằng hai yếu tố này như là hai mặt của một vấn đề không thể tách rời.
Ngữ hành là yếu tố có thể quan sát được, nhưng ngữ năng là yếu tố tiềm ẩn để tạo ra ngữ hành và cả hai yếu tố này đều được hình thành bởi nhận thức và yếu tố xã hội. Canale và Swain (1980) đã có cái nhìn mới hơn về năng lực giao tiếp. Họ cho rằng KNGT là sự tổng hợp các kiến thức về các quy tắc ngữ pháp cơ bản và kiến thức về ngôn ngữ trong mối tương quan với môi trường xã hội. Canale và Swain đã làm rõ quan điểm của mình bằng cách phân tích KNGT dựa trên các yếu tố được cho là cấu thành nên năng lực giao tiếp.
Năng lực về ngữ pháp có nghĩa là việc thụ đắc các quy tắc âm vị học, quy tắc hình thái học, quy tắc cú pháp, các quy tắc ngữ nghĩa và các đơn vị từ vựng. Năng lực về ngôn ngữ xã hội có nghĩa là khả năng thụ đắc các đặc tính ngữ dụng của các đơn vị hành ngôn (speech acts) khác nhau, chẳng hạn như: giá trị văn hóa, nghi thức xã hội và các tục lệ văn hóa xã hội khác trong một ngữ cảnh cụ thể. Các đơn vị hành ngôn có thể là các ngữ cảnh, chủ đề của ngôn bản, địa vị xã hội, tuổi tác, giới tính của tác ngôn và một số các nhân tố khác ảnh hưởng đến phong cách hay phạm vi từ vựng. Năng lực về ngôn bản là khả năng kết nối các câu đơn thành một ngôn bản mang ý nghĩa.Năng lực về thủ thuật giao tiếp là cách nhận biết và sửa chữa các hạn chế trong giao tiếp như: làm thế nào để khắc phục những hạn chế về kiến thức ngôn ngữ và làm thế nào để hiểu được ý nghĩa lời nói trong bối cảnh giao tiếp cụ thể.
Như vậy, có thể nói, đã có nhiều quan điểm khác nhau về KNGT. Với lý thuyết ngữ pháp tạo sinh (generative grammar) của mình, Chomsky (1965) cho rằng KNGT là sự kết hợp của kiến thức về ngôn ngữ (bao gồm kiến thức về các quy luật của ngữ pháp) và các quy tắc sử dụng ngôn ngữ. Các nguyên tắc dạy và học ngôn ngữ giao tiếp Trong quá trình dạy ngôn ngữ giao tiếp, các dạng bài tập và hoạt động tương thích với hoạt động giao tiếp là không có giới hạn, miễn là những bài tập đó giúp cho người học đạt được mục tiêu của chương trình, thu hút người học tham gia vào giao tiếp và vào các quá trình như chia s thông tin, đàm phán và tương tác. Những tiền đề này gợi ý rằng để thực hiện thành công việc giảng dạy ngôn ngữ giao tiếp, cả giảng viên và sinh viên đều phải thay đổi vai trò của mình trong lớp học.
Điều này cho thấy rằng để dạy và học thành công trong ngôn ngữ giao tiếp, tài liệu giảng dạy phải có nội dung đa dạng; và như Nunan (1989), Richard và Rodger (1986) đã gợi ý, tài liệu có thể được sử dụng hữu hiệu nhất trong hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp là dựa vào ngôn bản (text-based), dựa vào nhiệm vụ (task-based) và ngữ liệu trong giáo trình phải có tính sát thực (authenticity). Nếu những nguyên tắc này được quán triệt trong việc lựa chọn giáo trình thì nội dung giảng dạy sẽ giúp ích rất nhiều cho giảng viên trong phương pháp giảng dạy của họ. Phương pháp dạy ngôn ngữ giao tiếp Trong giáo học pháp ngoại ngữ, có hai khái niệm quan trọng cần lưu ý trong quá trình giảng dạy ngôn ngữ theo hướng giao tiếp, đó là “độ chính xác” (accuracy) và “độ lưu loát” (fluency). Thuật ngữ “độ lưu loát” chỉ việc sử dụng ngôn ngữ tự nhiên và không chú trọng đến việc liệu người học có hiểu biết và sản sinh ra ngôn ngữ giống như người bản ngữ hay không.
Do đó, độ lưu loát liên quan đến sự chi phối của sinh viên (người học làm trung tâm), dựa vào ý nghĩa và khó đoán được nội dung giảng dạy. Mỗi khái niệm có quan hệ với một hướng giảng dạy ngoại ngữ riêng biệt. Theo Brumfit (1984), trong hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp, sự phân biệt giữa độ chính xác và độ lưu loát về cơ bản là sự phân biệt về phương pháp chứ không phải là sự phân biệt trong tâm lý học hay trong ngôn ngữ học; nghĩa là, nó là sự phân biệt có thể có giá trị cho giảng viên trong việc ra quyết định về nội dung của các bài học và việc phân phối thời gian và các kiểu hoạt động giảng dạy và học tập. Dạy ngôn ngữ giao tiếp tập trung nhiều hơn vào khái niệm “độ lưu loát”.
Từ cuối những năm 1960, do ảnh hưởng của hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp, trong giáo học pháp 9 ngoại ngữ đã có một sự thay đổi trọng tâm từ “độ chính xác” sang “độ lưu loát”. Sự thay đổi này cũng đã buộc các nhà giáo dục phải xem x t một cách thận trọng vai trò của phương pháp giảng dạy, vai trò của mối quan hệ giữa giảng viên và sinh viên và nội dung ngôn ngữ được sử dụng, hơn là những tiêu điểm của chương trình. Dạy ngôn ngữ giao tiếp khẳng định rằng những hoạt động thực hành kỹ năng ngôn ngữ của sinh viên càng độc lập với sự can thiệp của giảng viên nhiều bao nhiêu thì càng tốt bấy nhiêu. Khái niệm độ chính xác quan tâm nhiều đến việc sử dụng đúng các cấu trúc ngữ pháp.
Tuy nhiên, dạy ngôn ngữ giao tiếp không bỏ qua độ chính xác. Điều này được thể hiện rõ trong việc xử lý các lỗi sai mà sinh viên hay mắc phải và các lỗi này được sửa chữa như thế nào.Trong giảng dạy truyền thống, vai diễn của giảng viên yêu cầu họ phải đánh giá tất cả sự thể hiện ngôn ngữ của sinh viên theo các tiêu chí được xác định rõ ràng, đó là những cấu trúc hình thức hay đặt trọng tâm vào việc sản sinh ra những hình thức ngôn ngữ đúng. Dạy ngôn ngữ giao tiếp yêu cầu giảng viên phải tham gia vào việc xác định lại vai trò truyền thống của mình. Giảng viên có thể quyết định không sửa lỗi của sinh viên mắc phải ở một thời điểm nào đó mà mình quan sát hay nghe thấy.
Sự phát triển khả năng giao tiếp xuất hiện thông qua các quá trình bên trong sinh viên. Điều này không có nghĩa là dạy ngôn ngữ giao tiếp không cần đến giảng viên, ngược lại, giảng viên phải chuẩn bị để hỗ trợ cho những nhu cầu học tập của sinh viên. Họ phải hoạt động như là một nhà cố vấn, giúp cho sinh viên ở chỗ nào cần thiết hay cùng giao tiếp với sinh viên.