Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học (mã số 62.08) với đề tài "Tính phổ biến và tính đặc thù của nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội trên thế giới hiện nay" do nghiên cứu sinh Vũ Thế Tùng thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2017, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Quốc Phẩm và PGS.TS. Nguyễn Văn Oánh.

Về tính cấp thiết, tác giả luận giải rằng sự ra đời của chủ nghĩa Mác năm 1848 đã đưa chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học, xác lập các quy luật có tính phổ biến của hình thái kinh tế - xã hội cộng sản chủ nghĩa gắn liền với yêu cầu vận dụng phù hợp điều kiện đặc thù của từng quốc gia. Sau Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 và Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới hình thành và đạt nhiều thành tựu; tuy nhiên, giai đoạn trước cải cách, cải tổ, đổi mới đã xuất hiện hạn chế nghiêm trọng: tuyệt đối hóa quy luật phổ biến, coi nhẹ yếu tố đặc thù, giáo điều hóa mô hình Xô viết và xem các tìm tòi riêng là "xét lại", dẫn đến khủng hoảng hệ thống. Sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu xuất phát từ việc xa rời nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa xã hội khoa học trong quá trình cải tổ. Ngược lại, các nước Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba tiến hành cải cách, đổi mới, giữ vững nguyên lý nền tảng kết hợp với điều kiện đặc thù để vượt qua khủng hoảng. Luận án xác định khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước đây chủ yếu tiếp cận đơn lẻ từng lĩnh vực hoặc giới hạn trong một quốc gia, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, so sánh tính phổ biến và tính đặc thù trong nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội trên phạm vi các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay.

Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu tính phổ biến và tính đặc thù của nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội trên thế giới, luận án rút ra ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và Việt Nam hiện nay.

Nhiệm vụ nghiên cứu gồm bốn nội dung được đánh số theo văn bản:

  1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án, từ đó xác định hướng nghiên cứu của luận án;
  2. Làm rõ lý luận chung về tính phổ biến và tính đặc thù của nhận thức về chủ nghĩa xã hội;
  3. Phân tích tính phổ biến và tính đặc thù của những nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội trên thế giới thời kỳ cải cách, đổi mới;
  4. Rút ra ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và Việt Nam hiện nay.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề có tính phổ biến và tính đặc thù của nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội trên thế giới hiện nay.
  • Phạm vi không gian: Tập trung vào 4 quốc gia gồm Trung Quốc, Việt Nam, Lào và Cuba.
  • Phạm vi thời gian: Từ khi các nước này tiến hành cải cách, đổi mới đến thời điểm thực hiện luận án (năm 2017).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án phân loại và điểm luận các công trình nghiên cứu đã công bố theo ba nhóm tác giả và chủ đề:

Nhóm thứ nhất - Các công trình của tác giả trong nước nghiên cứu về tính phổ biến và đặc thù của nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội trên thế giới:

  • Nguyễn An Ninh với các công trình Về triển vọng chủ nghĩa xã hội trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI [72], Về mô hình “chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI” của khu vực Mỹ Latinh hiện nay [74], và Tính phổ biến và đặc thù của các mô hình và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội hiện nay [75] (khái quát 7 điểm tương đồng về mô hình và 7 điểm tương đồng về biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội).
  • Nguyễn Ngọc Long với công trình Chủ nghĩa Mác - Lênin với vận mệnh và tương lai của chủ nghĩa xã hội hiện thực [59] (phân tích sự phát triển của chủ nghĩa xã hội hiện thực trước và sau đổi mới, cải cách ở Trung Quốc, Việt Nam, Cuba, Lào, Triều Tiên).
  • Trịnh Quốc Tuấn với Về chủ nghĩa xã hội mang đặc sắc Trung Quốc - những vấn đề có thể tham khảo cho công cuộc đổi mới ở nước ta [103] (tập trung 4 nhóm nội dung về thể chế kinh tế, chính trị, văn minh tinh thần).
  • Đỗ Tiến Sâm với các nghiên cứu Trung Quốc với việc xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa [90] và Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc - quá trình hình thành và phát triển [91] (khái quát hệ thống lý luận từ Mao Trạch Đông đến Hồ Cẩm Đào).
  • Nguyễn An Ninh, Nguyễn Văn Quyết với Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc [76].
  • Trương Duy Hòa với Một số vấn đề và xu hướng chính trị - kinh tế của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào trong hai thập niên đầu thế kỷ XXI [40].
  • Lê Hữu Nghĩa, Trương Thị Thông, Mạch Quang Thắng, Nguyễn Văn Giang với Xây dựng đảng cầm quyền trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam và nền kinh tế hàng hóa theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Lào [71].
  • Vũ Trung Mỹ với Đại hội VII Đảng Cộng sản Cuba: tiếp tục hướng tới mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội thịnh vượng và bền vững [69].
  • Đinh Công Tuấn với Mô hình phát triển Bắc Âu [105].
  • Phạm Quý Long với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên trong thập niên đầu thế kỷ XXI [60].
  • Tạ Ngọc Tấn với Những tranh luận mới của các học giả Nga về chủ nghĩa xã hội [94].
  • Bùi Thị Ngọc Lan với Chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI ở khu vực Mỹ Latinh - thực trạng và triển vọng [51].

Nhóm thứ hai - Các công trình của tác giả trong nước nghiên cứu về Việt Nam:

  • Đào Duy Tùng với Quá trình hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [106] (phân tích Cương lĩnh năm 1991 với 6 đặc trưng).
  • Nguyễn Văn Oánh với Về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [78] và Về khái niệm định hướng xã hội chủ nghĩa [77].
  • Nguyễn Duy Quý với Những vấn đề lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [85].
  • Trịnh Quốc Tuấn, Nguyễn Khánh Bật với Hồ Chí Minh về chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [102].
  • Phạm Đình Đảng với Tính thống nhất và tính đa dạng của chủ nghĩa xã hội với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [15].
  • Dương Phú Hiệp với Tiến lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam [39].
  • Nguyễn Quốc Phẩm với bài viết Đại hội X tiếp tục làm sáng tỏ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta [80] (phân tích 8 phương hướng của Đại hội X).
  • Nguyễn Đức Bình với Về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [8].
  • Nguyễn Trọng Phúc với Đổi mới ở Việt Nam - thực tiễn và nhận thức lý luận [84].
  • Trịnh Quốc Tuấn với Một số vấn đề về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta [104].
  • Đỗ Thị Thạch với Mô hình (đặc trưng) chủ nghĩa xã hội trong Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) [96].
  • Nguyễn Văn Huyên với Mô hình phát triển xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội [44].
  • Nguyễn Thị Ngân với Quan điểm của C.Mác về chủ nghĩa xã hội và nhận thức của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [70].
  • Nguyễn Quốc Phẩm, Đỗ Thị Thạch với Nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [81].
  • Hoàng Chí Bảo với Chủ nghĩa xã hội hiện thực và quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [6].
  • Trần Thành với Chủ nghĩa xã hội Việt Nam - những quan điểm lý luận cơ bản [97].
  • Lưu Ngọc Khải với Về tính phổ biến và tính đặc thù trong đổi mới chủ nghĩa xã hội hiện nay [48].
  • Nguyễn Hữu Đổng, Phạm Thế Lực với Tính phổ biến và đặc thù của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam [32].
  • Tạ Ngọc Tấn với Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam - những vấn đề lý luận từ công cuộc đổi mới [95].

Nhóm thứ ba - Các công trình của học giả nước ngoài:

  • Trung Quốc: Trương Lôi Khắc, Tự Lập Bình [47]; Chu Thượng Văn, Chu Cẩm Uy, Trần Tích Hỷ [110]; Trần Lập Tân, Trần Tuyết Cường [93]; Đổng Liên Tường [107]; Vương Ngọc Giác [34] (luận giải về kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, thể chế "một đất nước hai chế độ", tư duy "bốn toàn diện").
  • Lào: Chương Xổm Bun Khẳn [14]; Sinlavông Khutphaithun [92]; Chalơn Diapaohơ [12]; Bosẻngkhăm Vôngđala [11] (làm rõ sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Cay-xỏn Phôn-vi-hản, đổi mới cơ chế kinh tế và văn hóa các bộ tộc Lào).
  • Cuba: Admi Valhuerdi Cepero [2]; Rosario Pentón Diaz [87]; Maria De Jesús Calderius Fernández [65]; Salvador Valdés Mesa [89] (phân tích quá trình cập nhật mô hình kinh tế - xã hội, nền tảng tư tưởng Mác - Lênin kết hợp tư tưởng Hô-xê Mác-ti và thực tiễn Phi-đen Cát-tơ-rô).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Các công trình đã công bố hoặc chỉ tập trung vào một lĩnh vực riêng lẻ (kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền), hoặc giới hạn trong phạm vi một quốc gia cụ thể. Luận án đặt mục tiêu nghiên cứu hệ thống, toàn diện mối quan hệ biện chứng giữa tính phổ biến và tính đặc thù trên tất cả các lĩnh vực (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội) ở 4 nước xã hội chủ nghĩa (Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba) trong thời kỳ cải cách, đổi mới, từ đó chỉ ra các giá trị lý luận và bài học thực tiễn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng từ:

  1. Hệ thống phạm trù triết học duy vật biện chứng: Cặp phạm trù "cái riêng", "cái chung", "cái đơn nhất", trong đó "cái phổ biến" là cái chung có ở tất cả sự vật hiện tượng được nghiên cứu, còn "cái đặc thù" là cái chung chỉ xuất hiện ở một loại hoặc nhóm nhỏ sự vật hiện tượng.
  2. Khái niệm chủ nghĩa xã hội: Luận án tiếp cận chủ nghĩa xã hội theo hai bình diện chính là hệ tư tưởng, lý luận khoa học (bắt đầu từ năm 1848) và chế độ xã hội hiện thực (bắt đầu từ năm 1917).
  3. Khái niệm nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội: Được xác lập dựa trên hai tiêu chí: (i) Tiêu chí thời gian (xuất hiện trong thời kỳ cải cách, đổi mới); (ii) Tiêu chí nội dung (bổ sung, phát triển so với các quan điểm kinh điển và quan điểm trước đổi mới).
  4. Năm nguyên tắc của nhận thức mới: Kiên trì mục tiêu chủ nghĩa xã hội; vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin; giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản; đổi mới toàn diện, đồng bộ, có kế thừa và có bước đi thích hợp; đổi mới vì lợi ích của nhân dân và dựa vào nhân dân.

Phương pháp nghiên cứu:

  • Luận án sử dụng hướng tiếp cận định tính thuần túy trong khoa học chính trị và triết học mác-xít, dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử.
  • Các phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm: Phương pháp logic kết hợp với lịch sử; phương pháp phân tích văn bản và tài liệu; phương pháp tổng hợp; phương pháp so sánh đối chiếu giữa các giai đoạn lịch sử và giữa các quốc gia.
  • Nguồn tư liệu, dữ liệu: Tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I. Lênin; văn kiện chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (các kỳ Đại hội Đảng từ khóa VI đến XII, Cương lĩnh 1991, Cương lĩnh bổ sung phát triển năm 2011), Đảng Cộng sản Trung Quốc, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Đảng Cộng sản Cuba; các ấn phẩm, công trình nghiên cứu lý luận chính trị trong và ngoài nước.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án

Chương 1 hệ thống hóa và phân tích chuyên sâu các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến tính phổ biến và tính đặc thù của chủ nghĩa xã hội. Tác giả chỉ ra giá trị kế thừa từ các công trình đi trước, đồng thời nêu bật hai hạn chế căn bản của lịch sử nghiên cứu: sự khu biệt trong từng lĩnh vực chuyên ngành hẹp và tính cục bộ theo phạm vi một quốc gia riêng lẻ. Từ đó, chương 1 xác lập tính xác đáng và định hướng của luận án là nghiên cứu so sánh, tổng hợp toàn diện trên 4 quốc gia tiêu biểu đại diện cho phong trào xã hội chủ nghĩa hiện thực thời kỳ cải cách, đổi mới.

Chương 2: Lý luận chung về tính phổ biến và tính đặc thù của nhận thức về chủ nghĩa xã hội

Chương 2 tập trung phân tích hệ thống khái niệm nền tảng và quan điểm mác-xít kinh điển về tính phổ biến và đặc thù trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội:

  • Làm rõ bản chất nhận thức là quá trình phản ánh biện chứng hiện thực khách quan dựa trên thực tiễn, chia tiến trình nhận thức về chủ nghĩa xã hội thành 4 thời kỳ lịch sử.
  • Luận giải quan niệm của C.Mác, Ph.Ăngghen và V.I. Lênin về tính phổ biến trên 3 lĩnh vực: Chính trị (sự lãnh đạo của đảng vô sản kiểu mới, nhà nước chuyên chính vô sản dựa trên liên minh công nông, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa); Kinh tế (phát triển nhanh lực lượng sản xuất, thủ tiêu dần chế độ tư hữu tư bản, thiết lập công hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu, tổ chức lao động mới, phân phối theo lao động); Văn hóa - xã hội (xây dựng nền văn hóa kế thừa tinh hoa nhân loại, giải phóng con người toàn diện).
  • Phân tích quan điểm của các nhà kinh điển về tính đặc thù: Việc vận dụng nguyên lý phổ biến phải căn cứ hoàn cảnh lịch sử, không gian, thời gian cụ thể của từng dân tộc; các đảng cộng sản phải chủ động phát triển lý luận để tìm con đường đi lên riêng biệt, tránh cả hai khuynh hướng sai lầm là giáo điều tả khuynh (tuyệt đối hóa phổ biến) và xét lại hữu khuynh (tuyệt đối hóa đặc thù).
  • Đánh giá giai đoạn trước cải cách, cải tổ, đổi mới: Các nước xã hội chủ nghĩa đã đồng nhất mô hình Xô viết với quy luật phổ biến, áp dụng xơ cứng, chậm đổi mới tư duy kinh tế, dẫn đến khủng hoảng sâu sắc.

Chương 3: Tính phổ biến và tính đặc thù của nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội trên thế giới thời kỳ cải cách, đổi mới

Chương 3 là chương trọng tâm, phân tích bối cảnh lịch sử tác động đến nhận thức mới (sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, cuộc cách mạng khoa học - công nghệ, xu thế toàn cầu hóa và khủng hoảng kinh tế - xã hội nội tại), từ đó làm rõ tính phổ biến và nét đặc thù của 4 quốc gia:

Lĩnh vực Tính phổ biến ở các nước xã hội chủ nghĩa
Chính trị Kiên trì sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng Cộng sản; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng.
Kinh tế Xác định phát triển lực lượng sản xuất là nhiệm vụ trung tâm; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa / kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu (kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo); thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế; phân phối theo lao động là chủ yếu kết hợp đa dạng các hình thức phân phối khác.
Văn hóa - Xã hội Xây dựng nền văn hóa kết hợp bản sắc dân tộc với tinh hoa thời đại; thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước phát triển; thực hiện chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo, bảo đảm giáo dục và y tế cho nhân dân.

Về tính đặc thù trong nhận thức mới tại 4 quốc gia:

  • Trung Quốc: Xây dựng hệ thống lý luận "Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc" (kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với Tư tưởng Mao Trạch Đông, Lý luận Đặng Tiểu Bình, Thuyết Ba đại diện, Quan điểm phát triển khoa học và Tư duy chiến lược Bốn toàn diện); thực hiện thể chế "Một đất nước hai chế độ"; kết hợp "đức trị và pháp trị"; thực hiện chính sách cho phép "một bộ phận nhân dân giàu lên trước".
  • Việt Nam: Xác định con đường quá độ gián tiếp "bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa" (bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa); mô hình chủ nghĩa xã hội xác lập trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 với 8 đặc trưng và 8 phương hướng cơ bản; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng.
  • Lào: Kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với tư tưởng Cay-xỏn Phôn-vi-hản; chuyển đổi từ nền kinh tế tự nhiên, tự cấp tự túc sang nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa; củng cố khối đại đoàn kết các bộ tộc Lào và giữ gìn văn hóa truyền thống dân tộc.
  • Cuba: Đảng Cộng sản Cuba thành lập trên cơ sở hợp nhất các lực lượng cách mạng chống chế độ độc tài Batista; nền tảng lý luận gồm chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hô-xê Mác-ti và thực tiễn cách mạng của Phi-đen Cát-tơ-rô; thực hiện đường lối "cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội"; kết hợp kế hoạch hóa với cơ chế thị trường có kiểm soát; từng bước phát triển kinh tế ngoài quốc doanh (hợp tác xã phi nông nghiệp, cá thể, cho thuê đất); kiên quyết duy trì chính sách y tế và giáo dục miễn phí toàn dân trong bối cảnh bị bao vây, cấm vận.

Chương 4: Ý nghĩa đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và Việt Nam hiện nay

Chương 4 đúc kết giá trị và phương hướng vận dụng từ kết quả nghiên cứu:

  • Ý nghĩa thời đại: Khẳng định sức sống khoa học của chủ nghĩa Mác - Lênin trong điều kiện lịch sử mới; chứng minh tính tất yếu của việc xử lý hài hòa mối quan hệ giữa quy luật phổ biến và điều kiện đặc thù; khẳng định sự đa dạng của các mô hình phát triển đi lên chủ nghĩa xã hội, bác bỏ luận điệu đồng nhất chủ nghĩa xã hội với mô hình tập trung quan liêu bao cấp trước đây.
  • Ý nghĩa đối với Việt Nam: Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh; vận dụng sáng tạo các quy luật phổ biến vào thực tiễn Việt Nam; đẩy mạnh tổng kết thực tiễn để bổ sung, hoàn thiện lý luận về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; kiên quyết đấu tranh chống các biểu hiện suy thoái, "tự diễn biến", "tự chuyển hóa" và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch nhằm hướng tới mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án xác định ba đóng góp khoa học cơ bản:

  1. Về mặt lý luận: Góp phần làm rõ những vấn đề lý luận chung về tính phổ biến và tính đặc thù của nhận thức về chủ nghĩa xã hội; chuẩn hóa tiêu chí phân biệt giữa nhận thức mới thời kỳ cải cách, đổi mới với nhận thức thời kỳ trước đổi mới.
  2. Về mặt nội dung phân tích: Phân tích làm rõ hệ thống các vấn đề có tính phổ biến và những biểu hiện đặc thù trong nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội tại 4 quốc gia (Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba), chứng minh sự kết hợp biện chứng giữa nguyên lý chung của chủ nghĩa Mác - Lênin với điều kiện cụ thể của mỗi nước.
  3. Về mặt thực tiễn và giải pháp: Luận giải ý nghĩa của việc nghiên cứu tính phổ biến và đặc thù đối với sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên thế giới và ở Việt Nam; cung cấp luận cứ khoa học phục vụ công tác hoạch định đường lối, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và định hướng công cuộc đổi mới.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, do giới hạn trong phạm vi nghiên cứu của một luận án tiến sĩ chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, đề tài chủ yếu tập trung khảo sát 4 quốc gia xã hội chủ nghĩa điển hình (Trung Quốc, Việt Nam, Lào, Cuba) từ thời điểm bắt đầu cải cách, đổi mới đến năm 2017. Các mô hình cánh tả hoặc trào lưu xã hội chủ nghĩa khác (như chủ nghĩa xã hội thế kỷ XXI ở Mỹ Latinh, mô hình dân chủ xã hội Bắc Âu) chỉ được điểm luận ở phần tổng quan tài liệu mà chưa đi sâu phân tích đối sánh chi tiết trong chương nội dung chính. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng phạm vi khảo sát sang các phong trào xã hội chủ nghĩa mới trên thế giới và cập nhật những biến chuyển thực tiễn của các nước xã hội chủ nghĩa sau năm 2017.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học, Triết học Mác - Lênin, Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, Xây dựng Đảng và Quan hệ quốc tế.
  • Giảng viên các học viện chính trị, trường đại học trong nghiên cứu và giảng dạy các chuyên đề: Xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Chủ nghĩa xã hội hiện thực và các mô hình chủ nghĩa xã hội trên thế giới hiện nay.
  • Cán bộ làm công tác lý luận chính trị, nghiên cứu chiến lược và hoạch định chính sách trong việc tổng kết thực tiễn, hoàn thiện lý luận về chủ nghĩa xã hội và đấu tranh tư tưởng.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Luận án căn cứ vào những tiêu chí nào để xác định nhận thức "mới" về chủ nghĩa xã hội?
Trả lời: Luận án xác định nhận thức mới dựa trên 2 tiêu chí: (1) Căn cứ vào thời gian, đó là nhận thức xuất hiện trong thời kỳ cải cách, đổi mới (phân biệt với giai đoạn trước cải cách, đổi mới); (2) Căn cứ vào nội dung, đó là những nhận thức có sự bổ sung, phát triển so với quan điểm kinh điển mác-xít và khắc phục những quan điểm giáo điều, phiến diện trước đây.

Câu hỏi 2: Nhận thức mới có tính phổ biến trên lĩnh vực kinh tế ở các nước xã hội chủ nghĩa gồm những nội dung cốt lõi nào?
Trả lời: Gồm 4 nội dung chính: (1) Đặt nhiệm vụ phát triển lực lượng sản xuất lên hàng đầu; (2) Chuyển đổi từ mô hình kế hoạch hóa tập trung quan liêu sang phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa / kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa với nhiều thành phần sở hữu, trong đó kinh tế nhà nước/công hữu giữ vai trò chủ đạo; (3) Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; (4) Thực hiện phân phối theo lao động là chủ yếu kết hợp đa dạng các hình thức phân phối.

Câu hỏi 3: Nét đặc thù về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam được xác định như thế nào trong Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011?
Trả lời: Việt Nam xác định con đường quá độ gián tiếp là "bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa" (bỏ qua việc xác lập vị trí thống trị của quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng tư bản chủ nghĩa); mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa gồm 8 đặc trưng và 8 phương hướng phát triển cơ bản; phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng.

Câu hỏi 4: Tính đặc thù trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội ở Cuba thời kỳ đổi mới thể hiện qua các điểm căn bản nào?
Trả lời: Cuba tiến hành "cập nhật hóa mô hình kinh tế - xã hội"; xác định nền tảng tư tưởng gồm chủ nghĩa Mác - Lênin kết hợp tư tưởng Hô-xê Mác-ti và thực tiễn của Phi-đen Cát-tơ-rô; Đảng Cộng sản hình thành từ sự sáp nhập các lực lượng cách mạng chống độc tài Batista; duy trì ưu tiên kế hoạch hóa kết hợp tính toán yếu tố thị trường; chấp nhận khu vực ngoài quốc doanh có kiểm soát (hợp tác xã phi nông nghiệp, kinh tế cá thể, thuê đất, đầu tư nước ngoài); và kiên quyết duy trì hệ thống y tế, giáo dục miễn phí toàn dân trong điều kiện bị bao vây cấm vận kéo dài.

Kết luận

Luận án của tác giả Vũ Thế Tùng đã hệ thống hóa cơ sở lý luận mác-xít về tính phổ biến và tính đặc thù, đồng thời phân tích làm rõ những bước chuyển biến căn bản trong nhận thức mới về chủ nghĩa xã hội ở 4 quốc gia Trung Quốc, Việt Nam, Lào và Cuba thời kỳ cải cách, đổi mới. Công trình chứng minh rằng sự kết hợp hài hòa giữa việc kiên định các nguyên lý phổ biến của chủ nghĩa Mác - Lênin với việc vận dụng sáng tạo vào điều kiện đặc thù của mỗi dân tộc là nhân tố quyết định bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của chế độ xã hội chủ nghĩa. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học quan trọng cho công tác nghiên cứu lý luận, giảng dạy học thuật và hoàn thiện con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.