Mở đầu‖, chúng tôi chưa tiếp cận được tài liệu bàn về hướng luận án triển khai, ở đó, các nội dung cơ bản của nhận thức luận (chủ thể, đối tượng, và tri thức) chịu quy định bởi tư tưởng thần bí vốn nảy sinh từ thiền (Phụ lục 3-4), thay vì xem thiền như phương tiện thực hành (dạng thụ động). Điều ấy có nghĩa ―thiền luận‖ chỉ có thể được bàn ở các chương sau. Khi trình bày kết quả nghiên cứu, thiền được khảo sát như thực thể chi phối tiến trình ―nhận thức luận trong Phật Giáo‖ chứ không chỉ thực hành. Bên cạnh đấy, trừ trường hợp phân biệt với nhận thức luận của các trường phái triết học khác và phải nêu đầy đủ tên trong các trích dẫn cũng như ở các đề mục của luận án, từ giờ trở đi, cụm từ ―nhận thức luận trong Phật Giáo‖ tạm được gọi là ―nhận thức luận‖.
Rút gọn tương tự cũng áp dụng cho ―logic học Phật Giáo‖, ―triết học Phật Giáo‖, ―luận sư Phật Giáo‖, và ―nhà nhận thức luận Phật Giáo‖. Tổng quan các công trình nghiên cứu về nhận thức luận trong Phật Giáo 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hình thành và phát triển nhận thức luận 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu về hình thành nhận thức luận Các công trình đều đề cập một trong hai hướng: (i) không phân chia và ngầm định nhận thức luận hình thành cùng tư tưởng của Phật Đà, (ii) cho rằng nó chỉ có thể hình thành cho đến khi có cấu trúc tương đối hoàn chỉnh.
Cụ thể như sau: Thứ nhất, nếu không đòi hỏi nhận thức luận phải gồm đầy đủ công cụ chính xác và phức tạp như ở thời đại Trần Na và Pháp Xứng, nhiều tài liệu cho rằng lĩnh vực này hình thành từ rất sớm, ngay từ thời của Phật Đà. Chẳng hạn, Grey Eminence của Aldous Huxley cho rằng Phật Giáo Sơ Kỳ chú trọng các yếu tố sơ khai của nhận thức luận, gồm các nguyên tắc xác minh và giới hạn tuyên bố ở các mệnh để có thể xác minh: ―Với các nhà Phật Giáo Sơ Kỳ, lý thuyết siêu hình (tức lý thuyết của các bà la môn Áo Nghĩa Thư) không được khẳng định cũng không bị phủ 14 định mà đơn giản bị bỏ qua vì (nó) vô nghĩa và không cần thiết. Quan tâm của họ là kinh nghiệm trực tiếp, bởi các kết cục của nó với cuộc sống là những cái được gọi giải thoát hay giác ngộ. Phật Đà và môn sinh của ông, trường phái Nam Tông, dường như áp dụng vào tôn giáo cái gọi là "triết học thao tác" mà các nhà khoa học đương thời bắt đầu áp dụng trong khoa học tự nhiên‖ [124, tr.
Triết học thao tác, trong đó có lý luận thao tác của nhận thức luận, là hệ thống đòi hỏi và, do đó, gồm các định nghĩa mang tính thao tác của các thuật ngữ quan trọng được sử dụng trong triết học nhằm khái niệm hóa hiện thực và giải quyết vấn đề nào đó. Vẫn theo Huxley, Phật Đà không phải là nhà thao tác nhất quán, hàm ý không nhất quán hành vi, không thể hiện cùng thái độ với các nhóm người hay sự việc, hành động và tư tưởng không ăn khớp, kể cả lý lẽ cũng không phải lúc nào cũng như nhau. Ngài mặc nhiên chấp nhận cái gì đó được nêu và thành hiển nhiên, (chấp nhận) biến thể nào đó của quan niệm mang tính địa phương về luân hồi. Akexander Wynne trong Miraculous Transformation and Personal Identity: A Note on the First Anatman Teaching of the Second Sermon (Chuyển hóa Kỳ diệu và Danh tính Cá nhân: Dấu hiệu về Bài giảng Vô ngã Thứ nhất của Cuộc Thuyết pháp Thứ hai) coi thao tác như vậy là ―khả năng của Phật Đà biến hóa thông điệp của ngài cho phù hợp với tình hình, cái nhìn chung được gọi là kỹ năng, upāya-kauśalya (phương tiện thiện xảo)‖ [243, tr.
Ví dụ đầu tiên Phật Đà vận dụng ―phương tiện thiện xảo‖, vẫn theo Wynne, là ngài điều chỉnh bài giảng vô ngã chính thống của mình (Anattā-vāda) cho phù hợp bối cảnh tranh luận với cư sỹ Saccaka (Tát Già Ca) của Kỳ Na Giáo, ở đấy, ngài đưa ra thuộc tính mới của vô ngã khi nhận thức về ngũ uẩn (pañca khandha), theo đấy, ngũ uẩn không thể kiểm soát. Toàn bộ câu chuyện Phật Đà đưa ra tri thức mới về ngũ uẩn, ―không thể kiểm soát‖, thể hiện ở Cūḷasaccakasutta (Tiểu Tát Già Ca Kinh) trong Majjhima Nikāya (Trung Bộ). Vẫn bàn về thời kỳ khởi thủy của nhận thức luận, Early Buddhist Theory of Knowledge của Kulatissa Nanda Jayatilleke cho rằng nhận thức Phật Giáo có ba nguồn chính: Veda (Vệ Đà), phi Vệ Đà-chủ nghĩa duy vật, phi Vệ Đà-chủ nghĩa hoài nghi và Äjivikas (Tạ Minh Ngoại Sáo Giáo), và Jains (Kỳ Na Giáo). Về nhận 15 định của Huxley ―Phật Đà không phải là nhà thao tác nhất quán‖, theo tác giả, có thể Huxley chưa tri ngộ cơ sở nhận thức và bản chất chủ nghĩa thực chứng của Phật Đà và có thể do ông bị dẫn dắt bởi các học giả quan niệm Phật Đà chấp nhận giáo điều luận điểm tái sinh từ truyền thống thịnh hành.
Ông phân tích cơ sở nhận thức luận trong các kinh điển tiếng Pali, bao trùm toàn bộ nền triết học Ấn Độ mà Phật Giáo Sơ Kỳ là thành phần hữu cơ. Ông làm rõ các phương tiện để tri thức phát khởi nhằm trả lời câu hỏi tri thức đến từ đâu. Tiếp đó, ông giải đáp các câu hỏi liên quan đến các phương tiện tri thức được biết đến, phê phán, và chấp nhận trong các kinh văn Phật Giáo. Để làm việc này, ông giành ba chương đầu trình bày tổng thể lịch sử kinh điển Pali và coi chúng là ngọn đuốc khám phá học thuyết tri thức của Phật Giáo.
Bên cạnh nghiên cứu các phương tiện tri thức, ông còn trình bày nhiều vấn đề về tri thức. Theo hướng ấy, ông so sánh logic Phật Giáo với logic Kỳ Na Giáo. Có thể kể đến vài tham khảo khác như The Vaicesika-system, described with the help of the oldest texts của Barend Faddegon, một trong những sách phương tây sớm nhất về triết học Ấn Độ. Về nguồn gốc nhận thức luận Phật Giáo, tác giả cho rằng Chánh Lý và Thắng Luận ảnh hưởng sâu đậm hơn cả [96, tr.
Nhìn chung, các nghiên cứu thừa nhận kinh nghiệm trực tiếp sơ khai hình thành cùng Áo Nghĩa Thư, một trong ba nguồn chính của văn chương Vệ Đà, khoảng 700-600 TCN. Indian Philosophy của Radhakrishnan mô tả nhận thức luận sơ kỳ như chủ nghĩa thực chứng: ―Phật Giáo sơ kỳ là thực chứng xét về lập trường và khu biệt chú ý của nó vào những gì chúng ta tri giác được. Một số nhà Phật Giáo sơ kỳ thậm chí cho rằng không có gì đằng sau vẻ ngoài, không chỉ không có gì với chúng ta mà còn không có gì với tất cả‖ [190, tr. Còn Triết học Phật Giáo và những luận đề của Nguyễn Vĩnh Thượng đề cập phương pháp hoài nghi của Phật Đà với sáu ―đừng tin‖, trong đó, ―đừng tin một cách dễ dàng vào một điều gì vì điều đó đã được lý luận và suy diễn cho rằng đúng‖ [39, tr.
Tác giả dường như xem hoài nghi là lý luận nhận thức sơ khai của Phật Giáo, v. Scherbatsky, trong Buddhist Logic In Two Volume-Volume II (Luận lý Phật Giáo Hai tập-Tập II) [205], xem nhận thức luận chỉ có thể xuất hiện 16 khoảng 1.000 năm sau khi Phật Đà nhập diệt. Trước hết, ông coi logic học và nhận thức luận là một. Khi ―tự thể hiện như đỉnh cao trong tiến trình lâu dài của lịch sử triết học Ấn Độ‖ [205, tr.
III], logic học bao trùm toàn bộ vấn đề nhận thức luận. Trong Buddhist Logic Vomume-I, ông khẳng định logic học ―gồm cả học thuyết về tri giác giác quan hay, nói đúng hơn, học thuyết về phần cảm giác thuần túy trong toàn bộ tri thức của chúng ta, học thuyết về tính tin cậy của tri thức của chúng ta, và hiện thực thế giới ngoại tại được chúng ta nhận thức bằng giác quan và hình ảnh‖ [206, tr. Sau khi so sánh Phật Giáo với bảy nền triết học Ấn Độ cổ đại, ông nhắc lại nhận thức luận cũng là logic học, thứ lý luận ―không phải là logic hình thức mà là (logic) triết học, (logic) nhận thức luận‖ [206, tr. Vẫn theo Scherbatsky, dấu mốc hình thành hai bộ môn nói trên gắn với hiện diện của Trần Na (Dignāga) và Pháp Xứng (Dharmakīrti): ―Dưới góc độ luận lý học Phật Giáo, chúng ta hiểu rằng hệ thống logic học và nhận thức luận hình thành ở Ấn Độ vào thế kỷ VI-VII sau công nguyên bởi hai niềm vinh quang vĩ đại của khoa học Phật Giáo, các luận sư Dignāga và Dharmakīrti‖ [206, tr.
Điều này có nghĩa, suốt hai lần chuyển pháp luân đầu tiên, mỗi lần khoảng 500 năm, trong tổng cộng ba bánh xe vận động (tricakra) theo phân loại của các luận sư Phật Giáo, là toàn bộ thời khoảng thai nghén của nhận thức luận. Nói cách khác, hình thành nhận thức luận ―trở thành đặc trưng nổi bật của giai đoạn ba, giai đoạn kết thúc của Phật Giáo Ấn Độ‖ [206, tr. Hai thời kỳ đầu của tam chuyển pháp luân nêu kỹ trong The Central Conception of Buddhism and the Meaning of the Word Dharma [203] và The Conception of Buddhist Nirvana [204], đều của Scherbatsky. Tổng quan các công trình nghiên cứu về phát triển nhận thức luận Scherbatsky chỉ khảo sát phát triển nhận thức luận Phật Giáo khi nó hình thành với đầy đủ công cụ cần thiết.
Điều đấy có nghĩa ông khảo sát tiến trình tiến hóa của nhận thức luân ở thời kỳ thứ ba của tam chuyển pháp luân, kéo dài 500 năm, bắt đầu tư thời đại của Thế Thân, Trần Na, và Pháp Xứng. Ông nhận diện bốn đặc điểm của nhận thức luận ở giai đoạn cực thịnh này của triết học Phật Giáo: 17 Thứ nhất, khôi phục logic học, lĩnh vực Scherbasky quả quyết gắn chặt với nhận thức luận. Thời kỳ này ―tiếp tục xảy ra các chuyển biến không ngờ trong lĩnh vực triết học‖ [206, tr. 11], trùng với thời đại vàng của văn minh Ấn Độ dưới triều đại Guptas.
Scherbatsky chỉ ra hai vì sao sớm của triết học Phật Giáo là huynh đệ Asanga (Vô Trước, 300-370) và Vasubandhu (Thế Thân, 316-396) mà ông gọi họ lần lượt là ―thánh‖ và ―luận sư‖. Công đầu của hai anh em thể hiện ở khôi phục vị thế logic học từng bị phủ nhận suốt nhiều trăm năm. Thứ hai, khôi phục tư duy nội quán. Triết học Phật Giáo thời kỳ thứ ba được Scherbatsky tả bằng cách mượn phát ngôn của Descartes cogito ergo sum.