Đặt vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài, bố cục của đề tài. Qua đó giúp người đọc có cái nhìn khái quát về đề tài nghiên cứu, từ đó tạo nền tảng cho nghiên cứu của tác giả về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan ở chương 2. 5 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN Trong chương này, tác giả sẽ làm rõ các khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu, các cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu liên quan từ đó đề xuất giả thuyết cho mô hình nghiên cứu. Các khái niệm liên quan 2.
Nhận thức bảo mật thông tin cá nhân 2. Khái niệm về nhận thức Theo Kellogg (2015) đã từng định nghĩa rằng "Tâm lý học nhận thức là quá trình nghiên cứu tinh thần của con người và vai trò của chúng trong lúc suy nghĩ, cảm nhận và hành vi". Từ đó ta có thể suy ra rằng nhận thức của một con người có thể được đánh giá qua suy nghĩ, cảm nhận và hành vi của người đó. Theo đó, Proctor và Proctor (2021) cho rằng, nhận thức là một phần quan trọng trong quá trình tư duy và là thành phần quan trọng để hiểu được hành vi của con người.
Mặt khác theo Zimbardo và Leippe (1991) lại công bố hệ thống thái độ điển hình mà tất cả mọi người đều có. Hệ thống thái độ này sẽ giúp giải thích các khía cạnh khác nhau liên quan đến việc xác định cách một người sẽ hành xử trong một tình huống nhất định. Theo đó, trung tâm của mọi thứ là bản thân thái độ thực tế, nhưng liên quan đến nó là một số yếu tố khác: • Ý định hành vi: điều này đề cập đến ý định của một người để hành xử theo một cách nhất định trong những điều kiện nhất định; • Hành vi: đây là hành vi thực tế được thể hiện bởi một người trong một tình huống nhất định, không nhất thiết giống như họ dự định hành xử trong tình huống đó; • Nhận thức: điều này đề cập đến kiến thức và niềm tin của một người về cách một người nên cư xử trong một tình huống nhất định; • Phản ứng tình cảm: đây là những phản ứng cảm xúc hoặc “linh cảm” được thể hiện trong bất kỳ tình huống nào. 6 Hình 1: Mô hình hệ thống thái độ điển hình Nguồn: Nghiên cứu của Kellogg (2015) 2.
Khái niệm về thông tin cá nhân Trong nghiên cứu của Schwartz và Solove (2014) có trình bày rằng, thông tin cá nhân hay được gọi là thông tin nhận dạng cá nhân bao gồm tất cả thông tin có thể nhận dạng hoặc xác định danh tính một người. Những thông tin cá nhân này bao gồm các thông tin như họ và tên, ngày sinh, chủng tộc, tôn giáo, số điện thoại, thông tin hộ chiếu, địa chỉ nhà, hồ sơ bệnh án, thông tin sinh tác học,… Ngày nay, thông tin cá nhân của một người dễ dàng được tiếp cận hơn thông qua mạng xã hội. Đây cũng là nơi mà các đối tượng đánh cấp thông tin cá nhân thường nhắm đến. Chính vì thế mà việc bảo vệ thông tin cá nhân trên mạng xã hội ngày càng trở nên cần thiết.
Khái niệm nhận thức bảo mật thông tin cá nhân Trong nghiên cứu của Senge (1990) về thuật ngữ "nhận thức về bảo mật thông tin'' được sử dụng để chỉ trạng thái mà người dùng trong một tổ chức nhận thức được (cam kết) sứ mệnh bảo mật của họ trong tổ chức. Tức đòi hỏi người dùng phải nhận thức được tầm quan trọng của thông tin và cố gắng bảo vệ nó. Cũng như Morin (2006) 7 định nghĩa "Thông tin cá nhân về bản thân" là một loại thông tin khái niệm hoặc trừu tượng về các khía cạnh của bản thân liên quan đến nhận thức về bản thân trong khi thông tin về bản thân công khai là một loại nhận thức hoặc thông tin hữu hình về các khía cạnh của bản thân như các đặc điểm và hành vi thể chất. Như vậy có thế kết luận rằng "Nhận thức bảo mật thông tin cá nhân" là trạng thái mà ở đó người dùng ý thức được tầm quan trọng của thông tin cá nhân, có kiến thức để tiến hành các hình thức bảo vệ, mức độ nhận thức bảo mật thông tin cá nhân được thể hiện qua suy nghĩ, cảm nhận và hành vi của người đó.
Ngoài ra, nghiên cứu G Öğütçü và cộng sự (2016) chỉ ra rằng trình độ học vấn càng cao thì nhận thức về bảo mật thông tin của họ càng cao. Người ta thấy rằng trình độ học vấn hoặc được đào tạo về bảo mật thông tin làm giảm mức độ rủi ro trong hành vi của người dùng. Cũng từ nghiên cứu đó cho thấy sinh viên (trong độ tuổi từ 18 - 30) là nhóm có nguy cơ cao nhất, do sinh viên ở độ tuổi này sử dụng Internet quá nhiều, đặc biệt là các mạng xã hội và phương tiện truyền thông. Vai trò nhận thức bảo mật thông tin cá nhân Nhận thức về bảo mật thông tin đóng một vai trò quan trọng trong quá trình bảo mật thông tin tổng thể của bất kỳ tổ chức nào (Siponen, 2001).
Straub & Welke (1998) cũng đã từng phát biểu Nhận thức về bảo mật thông tin có tầm quan trọng đặc biệt, vì các kỹ thuật hoặc quy trình bảo mật thông tin có thể bị người dùng cuối sử dụng sai, hiểu sai hoặc không sử dụng, do đó làm mất đi tính hữu dụng thực sự của chúng. Chính vì thế nhận thức về bảo mật thông tin cá nhân không chỉ quan trọng mà còn là cơ sở bảo mật thông tin cho cả một tổ chức. Hơn hết, vai trò quan trọng của yếu tố con người trong an ninh bảo mật thông tin đã được cả cộng đồng nghiên cứu và các nhà thực hành an ninh thông tin công nhận (Mitnick & Simon, 2003). Khái niệm mạng xã hội Thuật ngữ mạng xã hội là một khái niệm đã tồn tại lâu hơn nhiều so với Internet hoặc thậm chí là truyền thông đại chúng (Weaver & Morrison, 2008).
Theo Ferlander (2007) từ lâu thuật ngữ mạng xã hội đã xuất hiện và đề cập đến mạng lưới các mối 8 quan hệ xã hội bao quanh các cá nhân. Tuy nhiên, ở hiện tại mạng xã hội được hiểu là các trang web và ứng dụng cho phép người dùng và tổ chức kết nối, giao tiếp, chia sẻ thông tin và hình thành các mối quan hệ. Mọi người có thể kết nối với những người khác trong cùng khu vực, gia đình, bạn bè và những người có cùng sở thích. Đồng thời theo Weaver và Morrison (2008) thì một trang mạng xã hội thường cho phép người dùng đăng hồ sơ của họ và tạo các mạng cá nhân cho trao đổi thông tin với những người dùng khác.
Cũng dự theo nghiên cứu trên, Weaver và Morrison (2008) đã kể một số nền tảng mạng xã hội lớn trong đó Việt Nam cũng có lượng người dùng lớn như: Facebook Ra mắt bởi một sinh viên năm thứ hai của Harvard vào tháng 2 năm 2004, Facebook (www.com) ban đầu chỉ dành cho sinh viên Harvard. Trong hai năm tiếp theo, nó đã được mở rộng để bao gồm tất cả các trường đại học, sau đó là trường trung học và bây giờ là cho bất kỳ ai từ 13 tuổi trở lên Facebook là một mạng xã hội dựa trên mối quan hệ ngang hàng cho phép người dùng tạo hồ sơ cá nhân mô tả bản thân trong thế giới thực của họ và sau đó thiết lập kết nối với những người dùng khác. Ngoài những thông tin cơ bản như tên, tuổi và trường học, các tệp chuyên nghiệp còn bao gồm các thông tin như sách, phim, trích dẫn và ảnh yêu thích. Người dùng có thể tùy chỉnh thêm tài khoản của mình bằng cách tải lên các phương tiện khác như hình ảnh hoặc phim và tương tác với những người dùng khác bằng cách nhận xét về hồ sơ hoặc phương tiện của họ.
YouTube Mạng chia sẻ video trực tuyến, YouTube (www.com) cho phép người dùng tải lên video và chia sẻ các đoạn phim. Người dùng có thể duyệt video của người dùng khác cũng như lưu trữ miễn phí video của chính họ trên trang web. Họ cũng có thể giới thiệu các video phổ biến cho bạn bè qua e-mail hoặc nhúng mã đơn giản cho phép họ hiển thị các video YouTube trên trang web hoặc blog của riêng mình. 9 Twitter Twitter là một mạng xã hội trực tuyến miễn phí cho phép người dùng đọc, nhắn tin và cập nhật các hộp tin nhỏ được gọi là tweet, một dạng blog nhỏ.
Những tweet bí mật được giới hạn tối đa 280 ký tự được lan truyền nhanh chóng trong phạm vi nhóm bạn của người nhắn tin hoặc có thể được biểu thị rộng rãi cho mọi người. Được thành lập từ năm 2006, Twitter đã trở thành một biến thể hiện toàn cầu. Những dòng tweet này có thể chỉ là dòng tin bổ sung cá nhân cho đến những cập nhật thời sự tại chỗ đúng thời điểm và nhanh chóng hơn cả hệ thống truyền thông chính. Các doanh nghiệp có thể sử dụng Twitter để tương tác với các khách hàng tiềm năng, trả lời các câu hỏi, đưa ra tin tức mới nhất và đồng thời sử dụng các quảng cáo được nhắm mục tiêu với các đối tượng cụ thể.
Twitter được thành lập vào ngày 21 tháng 3 năm 2006 và có trụ sở chính tại San Francisco, California và có hơn 35 văn phòng khắp thế giới. Instagram Instagram là một sân khấu mạng trực tuyến trực quan. Theo Akram và Kumar (2017) thì trang web có hơn 400 triệu khách hàng năng động và được sở hữu bởi Facebook. Một số lượng đáng kể khách hàng của nó sử dụng nó để đăng dữ liệu về du lịch, hình thức, thức ăn, tay nghề và các chủ đề tương tự.
Nền tảng mạng xã hội này cũng được công nhận bởi các mặt nổi bật là thay đổi video và ảnh. Khoảng 95% người dùng Instagram cũng sử dụng Facebook. Vai trò mạng xã hội trong đời sống Mạng xã hội ngày nay không còn chỉ là một nền tảng giải trí đơn thuần mà nó còn mang lại nhiều lợi ích to lớn cho cả cộng đồng. Theo nghiên cứu của Collin và cộng sự (2011) đã đưa ra bằng chứng và liệt kê những lợi ích cho giới trẻ khi sử dụng mạng xã hội.
Nghiên cứu của họ đã tóm tắt một số lợi ích mà mạng xã hội mang lại bao gồm (1) Giáo dục, (2) Kiến thức truyền thông, (3) Thúc đẩy sáng tạo, (4) Bản sắc cá nhân và sự tự thể hiện,. (1) Đối với Giáo dục Vai trò của mạng xã hội đến giáo dục ngày càng nhiều, nhất là trong khoảng thời gian dịch Covid-19 diễn ra.