phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, luận văn dự kiến đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Chƣơng 2: Nội dung, phƣơng pháp và tổ chức nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu - Kết luận và khuyến nghị - Tài liệu tham khảo 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Lịch sử nghiêncứu vấn đề Trên thế giới đã có một số nghiên cứu về nhận thức của cộng đồng về SKTT, về nhận thức của giáo viên về SKTT học sinh, về vai trò của giáo viên trong việc hỗ trợ học sinh… 1. Các nghiên cứu trên thế giới Ở nhiều nƣớc trên thế giới, đặc biệt là ở châu Âu và châu Mỹ, SKTT đƣợc chú trọng từ lâu và đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề này. Trong quá trình tìm kiếm thông tin cho phần cơ sở lý luận, chúng tôi thấy rằng các nghiên cứu về SKTT rất nhiều, từ những nghiên cứu về thực trạng của các dấu hiệu tâm thần, về nhận thức của ngƣời dân, về thái độ của những ngƣời xung quanh… cho đến việc thích nghi các thang đo, chứng thực các cách thức điều trị.
Trong phạm vi của đề tài, chúng tôi phân chia các tài liệu tìm đƣợc theo các hƣớng chính: + Những nghiên cứu về nhận thức củacộng đồng về SKTT; + Những nghiên cứu về nhận thức của giáo viên về SKTT học sinh. Những nghiên cứu về nhận thức của cộng đồng về SKTT Nhiều kết quả nghiên cứu cho thấy, nhận thức của cộng đồng về SKTT còn nghèo nàn và hạn chế, và việc này cần phải đƣợc cải thiện, đặc biệt là ở các nƣớc đang phát triển hoặc các vùng nông thôn (Ganasen, Parkervà cộng sự, 2008; Kermode, Bowen và cộng sự, 2007). Nhóm tác giả Ganasen, Parker và cộng sự (2008) nhận thấy rằng những ngƣời có nhu cầu đƣợc chăm sóc SKTT có thể không nhận đƣợc những dịch vụ họ cần bởi vì sự thiếu hiểu biết về SKTT của các chuyên gia và ngƣời dân [18]. Cụ thể, ở các khía cạnh nhƣ: các dịch vụ chăm sóc SKTT không đƣợc chú trọng cả về chất và lƣợng, các chính sách về vấn đề này còn eo hẹp và chƣa hợp lý (thiếu thốn các chuyên gia về chăm sóc SKTT nhƣ bác sĩ tâm thần, nhà tâm lý học…).
Ở các nƣớc nhƣ Myanmar, Philippine, Kenya… thể hiện rõ điều này với số lƣợng 1 chuyên gia/ một triệu ngƣời. Đặc biệt, ở nhiều nƣớc nhƣ 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Indonesia, Pakistan, Chile, Brazil,… nền kinh tế thấp cũng song hành với những tệ nạn nhƣ dễ bị tổn thƣơng, vô gia cƣ, bạo lực, sức khỏe thể chất kém, và khiến cho việc quan tâm đến SKTT càng thiếu sót. Trong khi đó, các nguồn lực hỗ trợ lại không nhiều và cũng gặp nhiều rào cản [18]. Kermode, Bowen và cộng sự (2007) cũng tiến hành một cuộc khảo sát ở một vùng nông thôn ở Maharashtra, Ấn Độ nhằm tìm hiểu về nhu cầu đƣợc thăm khám về SKTT của ngƣời dân.
Trong nghiên cứu này, công cụ đƣợc sử dụng là bảng hỏi “Đánh giá nhận thức về sức khỏe thâm thần” (Mental Health Literacy assessment) để nghiên cứu trên 240 khách thể từ cộng đồng và 60 khách thể là nhân viên chăm sóc sức khỏe. Khách thể tham gia đƣợc giới thiệu hai trƣờng hợp mô tả một số triệu chứng của RLTT mà ngƣời nào đó đang gặp phải (trầm cảm, loạn thần) và cần phải gọi tên đƣợc vấn đề, nhận diện đƣợc cách điều trị và những ngƣời có thể điều trị rối loạn đó, cũng nhƣ kết quả lâu dài của rối loạn đó. Và hầu hết khách thể đều nhận ra các trƣờng hợp đó có vấn đề về SKTT. Cách thức điều trị từ phía gia đình, bạn bè, môi trƣờng xung quanh đƣợc coi là cách hỗ trợ phổ biến nhất.
Vai trò của các nhân viên chăm sóc sức khỏe và bác sĩ cũng đƣợc đề cao, nhƣng ngƣời ta lại ít nói tới bác sĩ tâm thần. Khoảng một nửa số khách thể cho rằng có thể tự giải quyết các vấn đề của mình. Các liệu pháp tâm lý cũng không đƣợc chú trọng [23]. Ƣu điểm của nghiên cứu này là xây dựng đƣợc hai trƣờng hợp về trầm cảm và tâm thần phân liệt trong bảng hỏi để khách thể lựa chọn.
Trong một cuộc khảo sát quốc gia vào năm 2007 về lĩnh vực SKTT, tác giả Jorm và Reacley (tại Úc) [42] đã tiến hành nghiên cứu về nhận thức về SKTT bằng cách đƣa ra các trƣờng hợp có RLTT để ngƣời dân nhận diện. Kết quả cho thấy: - Khả năng nhận diện các rối loạn và tìm kiếm sự trợ giúp: khoảng 75% các trƣờng hợp liên quan đến trầm cảm đƣợc gọi đúng tên. Khoảng 1/3 số này là tâm thần phân liệt và rối loạn stress sau sang chấn cũng đƣợc nhận diện chính xác. Kết quả trong nhóm cộng đồng nói chung, có 9% ngƣời trả lời sai tên của rối loạn ám ảnh xã hội, con số này ở giới trẻ là 3%.
- Các loại thuốc chống trầm cảm với rối loạn trầm cảm (cũng nhƣ thuốc chống loạn thần đối với tâm thần phân liệt) là cách điều trị tốt nhất. Còn các chiến lƣợc phòng ngừa trong cuộc sống nhƣ các hoạt động thể dục thể thao, tìm kiếm thông tin về các 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com vấn đề của mình, đi ra ngoài, thực hiện các cách thức thƣ giãn cũng là những cách hỗ trợ tốt. - Đối với giới trẻ, các thông tin thu đƣợc khá đa dạng: tìm kiếm sự hỗ trợ của bạn thân trƣớc tiên; uống vitamin (với rối loạn nhƣ trầm cảm, trầm cảm kết hợp với lạm dụng chất, ám sợ xã hội), hoặc thuốc chống trầm cảm (với các rối loạn khác); các cách thức phòng ngừa đƣợc đánh giá cao là các hoạt động tăng cƣờng thể chất, sự ủng hộ của nhóm, thƣ giãn, giảm uống rƣợu, thuốc lá và cần sa. - Các quan điểm về nguyên nhân và cách can thiệp đƣợc thể hiện nhƣ sau: + Ở các nghiên cứu trên cộng đồng, quan niệm về các tác nhân xã hội, nhƣ là những vấn đề gặp trong ngày, sự mất mát ngƣời thân, các sự kiện gây sang chấn và những chấn thƣơng thời thơ ấu là các nguyên nhân khá phổ biến.
Ngoài ra, yếu tố mất cân bằng sinh hóa cũng cần phải đƣợc xem xét thêm. + Đối với giới trẻ, họ cho rằng giữ mối quan hệ giao tiếp với bạn bè và gia đình, duy trì lịch sinh hoạt thƣ giãn điều độ đƣợc xem nhƣ là chiến lƣợc tốt nhất để phòng ngừa RLTT [42, tr. Trong nghiên cứu trên, các tác giả sử dụng công cụ chính là bảng hỏi, trong đó xây dựng các trƣờng hợp cụ thể để khách thể nhận diện. Cụ thể: trong bảng hỏi dành cho cộng đồng, các trƣờng hợp này gồm có trầm cảm, trầm cảm có ý nghĩ tự sát, tâm thần phân liệt khởi phát, tâm thần phân liệt mạn tính, ám ảnh sợ xã hội và rối loạn stress sau sang chấn.
Bảng hỏi dành cho thanh niên có các trƣờng hợp: trầm cảm, trầm cảm có ý tƣởng tự sát, trầm cảm có lạm dụng chất, loạn thần/tâm thần phân liệt, ám ảnh sợ xã hội và rối loạn stress sau sang chấn. Đi kèm với mỗi trƣờng hợp là một loạt các câu hỏi để đánh giá nhận thức của ngƣời trả lời về: loại rối loạn trong trƣờng hợp, khả năng tìm kiếm sự trợ giúp, quan điểm về cách thức hỗ trợ, quan điểm về nguồn hỗ trợ ƣu tiên, quan điểm về nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ, quan điểm về kết quả, quan điểm về cách phòng ngừa, thái độ kỳ thị, đối mặt với các RLTT, căng thẳng tâm lý [42, tr. Trong các nghiên cứu về nhận thức với SKTT, mỗi nghiên cứu lại có những kết quả khác nhau dựa trên các quan điểm về định nghĩa “nhận thức về SKTT”. Tổng quan các nghiên cứu cho thấy khi nghiên cứu về nhận thức SKTT, các thành tố sau luôn đƣợc nhấn mạnh: Nhận diện các RLTT ở các trƣờng hợp cho sẵn; Khả 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com năng tìm kiếm sự giúp đỡ; Mục đích trợ giúp đầu tiên về SKTT; Quan niệm về những ngƣời có thể giúp đỡ; Quan niệm về các cách điều trị; Quan niệm về sự phòng ngừa; Các định kiến cá nhân có thể thấy đƣợc; Thái độ cách biệt của xã hội; Đối mặt đối với các phƣơng tiện truyền thông; Trải nghiệm các RLTT của chính bản thân hoặc của ngƣời khác.
[42] Trong nghiên cứu về tìm hiểu nhận thức của bố mẹ với vấn đề SKTT của trẻ, tác giả Dianne Shanley (2008) đã thu thập thông tin qua việc sử dụng bảng hỏi. Theo bà, nhận thức về SKTT thể hiện ở các ý sau: - Nhận diện các biểu hiện bất thƣờng ở trẻ - Quan điểm về các nhóm nguyên nhân: có 11 nhóm nguyên nhân chủ yếu, chia thành 3 nhóm vấn đề mang tính toàn cầu: Các nguyên nhân về tâm sinh lý (cá nhân, các vấn đề của gia đình); Các nguyên nhân từ xã hội (bạn bè, vùng văn hóa.); Các nguyên nhân do không hòa hợp về tự nhiên/tâm linh (bị ma nhập, sự sụt giảm về năng lƣợng…) - Quan điểm về các cách thức điều trị để hỗ trợ cho trẻ: Điều trị cá nhân cho trẻ; Điều trị nhóm cả trẻ và bố mẹ; Điều trị từ phía trƣờng học; Dùng thuốc. Cụ thể hơn, sự hiểu biết, nhận thức có thể đƣợc định nghĩa với các khía cạnh: (a) khả năng nhận diện các rối loạn cụ thể hoặc các dạng khác nhau của căng thẳng tâm lý; (b) nhận thức và quan điểm về các yếu tố nguy cơ và nguyên nhân; (c) nhận thức và quan điểm về cách can thiệp qua tự giúp đỡ mình; (d) nhận thức và quan điểm về sự trợ giúp của các chuyên gia; (e) thái độ tích cực để hỗ trợ việc nhận diện và tìm kiếm sự trợ giúp phù hợp; và (f) nhận thức về cách thức tìm kiếm các thông tin liên quan đến SKTT (Jorm, 2000). Ý kiến khác cho rằng, nhận thức đƣợc coi là khả năng tìm kiếm, hiểu và sử dụng thông tin về SKTT của cá nhân nào đó (Jordan, Buchbinder và cộng sự, 2012).
Ngoài ra, nhận thức về SKTT cũng đƣợc nhận định là khả năng tiếp cận, hiểu và sử dụng thông tin để có thể kiểm soát và duy trì SKTT tốt. Các kiến thức này thƣờng là 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các niềm tin và khả năng hỗ trợ cho việc phòng ngừa, nhận diện, và/hoặc kiểm soát SKTT và sự thay đổi việc sử dụng các chất kích thích.