mở đầu, diễn biến và kết thúc một cách rõ ràng. Với tư cách là một quá trình tâm lý, các hiện tượng tâm lý được biểu hiện và phát triển trong một hệ thống kế tiếp nhau của các mức độ, trong một diễn trình về mặt thời gian. Sự phát triển theo một quá trình không chấp nhận sự nóng vội đốt cháy giai đoạn. Với tư các là một mặt của đời sống tâm lý của con người.
Nhận thức là một quá trình tâm lý xét cả dưới góc độ bản thân của các quá trình nhận thức 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cũng như sự phát triển nhận thức của các nhân và sự phát triển nhận thức của các nhân và sự phát triển nhận thức của loài người. Trong các cấp độ nhận thức của con người, các quá trình nhận thức từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính mặc dù khác nhau rõ ràng cả về cấp độ, cơ chế và kết quả của sự phản ánh nhưng đều giống nhau ở chỗ được diễn ra vào thời điểm khởi đầu hay bắt đầu xuất hiện khi có một vài sự vật hiện tượng trực tiếp tác động vào các giác quan của con người. Diễn biến của các quá trình là những cảm giác hay hình ảnh tri giác cụ thể khi sự vật còn đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta và điểm kết thúc của quá trình nhận thức này là thời điểm sự vật hiện tượng không tác động vào giác quan của con người nữa. Các quá trình nhận thức lý tính bao gồm tư duy và tưởng tượng, có điểm khởi đầu khi con người đứng trước tình huống có vấn đề.
Diễn biến của quá trình nhận thức này là lúc con người vận dụng những tri thức, hiểu biết của mình, tiến hành các thao tác tư duy giải quyết tình huống đó. Quá trình nhận thức lý tính được kết thúc khi con người đạt được một cách giải quyết tình huống đó. Như vậy ở bất kỳ cấp độ nào, quá trình nhận thức cũng đều diễn ra có điểm khởi đầu, diễn biến và kết thúc. Nói cách khác các quá trình nhận thức dù ở cấp độ nào cũng diễn ra theo một quá trình.
Dưới góc độ phát triển tâm lý cá nhân, sự phát triển nhận thức của một các nhân là quá trình cá nhân tiếp thu lĩnh hội nhũng tri thức của loài người và quá trình cá nhân tự sáng tạo để củng cố bổ sung để phát triển tri thức của loài người, diễn ra với những cấp độ và các giai đoạn phát triển khác nhau. Đây là quá trình học tập, lĩnh hội và không ngừng sáng tạo của các cá nhân để phản ánh ngày càng chân thực với các quy luật khách quan và tiếp cận dần với chân lý tuyệt đối thông qua quá trình sống và hoạt động của con người. Các thế hệ đi trước thông qua quá trình sống, hoạt động của mình đã khám phá được tri thức về hiện thực khách quan. Những khám phá này sẽ được ghi lại trong nền 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com văn hóa xã hội của loài người, trong thế giớ đồ vật.
Các thế hệ sau thông qua quá trình sống, tương tác vơi các đồ vật này, lĩnh hội lại kinh nghiệm của thế hệ đi trước biến chúng thành kinh nghiệm cá nhân. Không chỉ lĩnh hội lại kinh nghiệm của thế hệ đi trước mỗi cá nhân trong quá trình lao động và sáng tạo cảu mình lại tiếp tục khám phá về hiện thực và ghi lại những khám phá này trong thế giới đồ vật để lưu giữ cho các thế hệ tiếp theo. Từ đó loài người từng bước củng cố và làm giàu thêm nhận thức của mình. Cứ như vậy, nhận thức của loài người không ngừng được phát triển.
Quá trình này diễn ra một cách tiên tiến nối tiếp nhau, có thể có những nhảy vọt nhưng phải kế tiếp nhau và lấy cái trước làm tiền đề. Tóm lại, xét dưới góc độ bản thân của các quá trình nhận thức hay dưới góc độ nhận thức cảu mỗi cá nhân hoặc của loài người nhận thức luôn diễn ra theo một quá trình nhất định. Nhận thức là sự phản ánh về hiện thực. Hơn thế nữa đây không phải là sự phản ánh máy móc, giản đơn mà là sự phản ánh sáng tạo.
Phản ánh của hệ thống vật chất A về những thuộc tính của hệ thống vật chất B là sự lưu giữ những dấu vết của hệ thống vật chất A về những thuộc tính của hệ thống B thông qua quá trình tươn tác qua lại giữa A và B. Phản ánh là đặc tính của mọi sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan. Chúng được chia ra nhiều cấp độ với sự phức tạp khác nhau. Theo tính tích cực và sáng tạo của các quá trình phản ánh, các tác giả thường phân chia thành các loại phản ánh nhue phản ánh cơ học – vật lý, phản ánh thực vật, phản ánh sinh vật và phản ánh tâm lý.
Nhận thức là một loại phản ánh tâm lý. Đây là phản ánh của một tổ chức vật chất phát triển cao nhất trong sự phát triển của thế giới, đó là não người. Trong quá trình và hoạt động, con người tương tác với hiện thực khách quan, làm bộc lộ những thuộc tính và đặc điểm của hiện thực. Thông qua hệ thống giác quan và noron thần kinh, những đặc tính của hiện thực được truyền về và lưu trên não dưới dạng những tri thức và 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hiểu biết của con người về hiện thực khách quan.
Như vậy nhận thức là sự phản ánh thực khách quan vào não người. Sản phẩm của sự phản ánh là những hiểu biết tri thức của con người về thế giới. Khác với cấp độ phản ánh cơ học vật lý đơn giản, phản ánh nhận thức là sự phản ánh sáng tạo. Sự sáng tạo trong phản ánh nhận thức thể hiện dưới ba góc độ cơ bản.
Thứ nhất: phản ánh nhận thức không phải là sự phản ánh trực tiếp mà là sự phản ánh gián tiếp về hiện thực. Tính gián tiếp thể hiện ở chỗ, trong phản ánh nhận thức, con người vẫn có thể cho những tri thức về hiện thực ngay cả khi không tiếp xúc trực tiếp, trong khi phản ánh vật lý – cơ học chỉ có thể phản ánh về hiện thực khi có sự vật tương tác trực tiếp. Sự gián tiếp còn thể hiện ở chỗ phương tiện để tạo ra sự phản ánh khá phức tạp trải qua nhiều công đoạn và sử dụng các phương tiện khác nhau, đồng thời chịu ảnh hưởng của nhiều hiện tượng tâm lý khác chứ không mang tính trực tiếp, tức là phản ánh vật lý cơ học. Thứ hai: phản ánh nhận thức còn có khả năng phản ánh chính xác hiện thực và phản ánh trước hiện thực khách quan.
Thông qua các quá trình nhận thức như tư duy, tưởng tượng với các thao tác như: phân tích, tổng hợp, phán đoán, suy luận, khái quát hóa, trừu tượng hóa. và các sự kiện có sẵn trong hiện thực, con người có thể cho những dự báo, dự đoán trước hiện thực, phản ánh trước khi hiện thực diễn ra. Thứ ba: nếu như phản ánh vật lý – cơ học là sự phản ánh thụ động máy móc hiện thực thì phản ánh nhận thức là sự phản ánh mang tính tích cực, sáng tạo, nhận thức là nhận thức về hiện thực. Con người nhận thức hiện thực trước hết là để tồn tại cùng với hiện thực nhưng cao hơn nữa là để cải tạo hiện thực, bắt hiện thực theo ý mình, từng bước làm cuộc sống tốt đẹp, chủ động hơn.
Tóm lại: nhận thức là sự phản ánh hiện thực khách quan vào não người. Đây là hình thức phản ánh cao nhất và có tính sáng tạo nhất trong tất cả các 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hành thức phản ánh. Nhận thức về hiện thực khách quan được thực hiện thông qua quá trình sống và hoạt động của con người. Để tồn tại và phát triển, con người phải tiến hành các hoạt động lao động, sản xuất, tạo ra của cải vật chất.
Chính trong quá trình tương tác tự nhiên, các thuộc tính của sự vật hiện tượng được bộc lộ, thể hiện và được con người phản ánh, nhận thức. Nếu không có hoạt động, không có sự tương tác với hiện thực khách quan thì cũng không có quá trình phản ánh. Như vậy, nhận thức chỉ thực hiện được qua các hình thức hoạt động của con người, trong đó hoạt động lao động sản xuất vật chất là hoạt động trung tâm. Từ những định nghĩa của các tác giả khác nhau về nhận thức và sự phân tích trên có thể đưa ra khái niệm nhận thức như sau: “Nhận thức là sự phản án hiện thực khách quan vào não người thông qua quá trình sống và hoạt động”.
Giáo viên tiểu học Giáo dục tiểu học nhằm đạt đến mục tiêu : ". giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học lên trung học cơ sở " ( điều 27, mục 2, chương II, luật giáo dục ) có thể nói bậc tiểu học như cái nền nhà của ngôi nhà kiến thức của mỗi con người. Cái nền ấy vững chắc hay không vững chắc sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng, sự tồn tại của ngôi nhà. Chính vì điều đó, giáo dục tiểu học đòi hỏi sự công phu, cẩn thận, tỉ mỉ hơn lúc nào hết.
Do vậy lao động sư phạm của giáo viên tiểu học cũng sẽ mang những đặc thù riêng biệt. Một điều cần đề cập ở đây đó là do giáo dục tiểu học là bậc học bắt buộc và có tính phổ cập nên quy mô phân bố của các lớp học tiểu học sẽ là rộng nhất so với các bậc học khác. Có thể nói, ở đâu có trẻ em thì ở đó có giáo dục tiểu học, có lớp tiểu học. Điều này sẽ mang lại sự khác biệt của đội ngũ giáo viên tiểu học với giáo viên bậc học khác trong lao động sư phạm.
15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Điều 15, chương II, điều lệ trường tiểu học (2000) quy định : " mỗi lớp học có một giáo viên vừa làm chủ nhiệm, vừa giảng dạy các môn học. Tuỳ điều kiện cụ thể của từng trường, có thể phân công giáo viên chuyên trách đối với các môn hát - nhạc, mỹ thuật, thể dục ". Như vậy hầu hết giáo viên tiểu học phải dạy nhiều môn học kể cả môn chuyên có tính chất năng khiếu. Do đó đòi hỏi người giáo viên tiểu học phải năng động thì mới thích ứng được với yêu cầu của bậc học.