phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn đƣợc trinhỳ bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về nhận thức, giáo dục trẻ tự kỷ tại gia đình. Chƣơng 2: Tổ chức và phƣơng pháp nghiên cứu. Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu nhận thức của cha mẹ về việc giáo dục trẻ tự kỷ tại gia đình. 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NHẬN THỨC VÀ NHẬN THỨC CỦA CHA MẸ VỀ GIÁO DỤC TRẺ TỰ KỶ TẠI GIA ĐÌNH 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu về vấn đề nhận thức * Các nghiên cứu ở nước ngoài: Ngay từ thời xa xƣa, vấn đề nhận thức, vấn đề học tập đã đƣợc quan tâm, nó xuất hiện cùng với sự xuất hiện của loài ngƣời. Đến thế kỷ 17, lý luận về nhận thức mới dần dần đƣợc hình thành, một số tác giả nhƣ Đ.Các, Căng… đã thấy đƣợc tầm quan trọng của nhận thức, từ đó từng bƣớc hình thành nên lý luận nhận thức. Đến thế kỷ 19 (1879), khi Wunt thành lập phòng thực nghiệm Tâm lý đầu tiên trên thế giới, ông đã có nghiên cứu, đo đạc trí nhớ, tƣ duy của con ngƣời, vì thế mà công trình nghiên cứu của ông là những công trình nghiên cứu đầu tiên về Tâm lý học nhận thức.
Tuy nhiên, việc định danh phân ngành này đƣợc diễn ra cùng với xuất hiện cuốn sách “Tâm lý học nhận thức” đầu tiên của U. Neisser (1967), Tạp chí tâm lý học nhận thức cũng ra đời vào năm 1970. Đến những năm 60 của thế kỷ XX, khái niệm nhận thức đƣợc sử dụng nhƣ một khái niệm chung để chỉ hầu hết các quá trình tâm lý học bao gồm: tri giác, tƣ duy, động cơ… [28] Bandura (1925- ) là ngƣời đầu tiên đề xƣớng lý thuyết “tập nhiễm xã hội”. Lý thuyết này đã coi trọng đến các quá trình nhận thức.
Từ lý thuyết này ông phát triển ra một loạt các lý thuyết khác là: bản đồ nhận thức, những chiến lƣợc, cách làm, lòng tự tin, đánh giá mình. Tất cả các lý thuyết này đều chỉ ra rằng nhận thức của con ngƣời ảnh hƣởng đến hành vi của họ. Khi nghiên cứu về sinh học, Piaget đã phát hiện ra quá trình sinh học gần nhƣ gắn liền với quá trình tâm lý và coi là quá trình phát triển duy nhất. 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ông là ngƣời phát minh ra lý thuyết phát triển lứa tuổi.
Lý thuyết về phát triển nhận thức và góc nhìn nhận thức luận của Piaget đƣợc gọi chung là "Nhận thức luận di truyền" (genetic epistemology). Theo ông, ngay từ khi mới sinh ra con ngƣời đã có nhu cầu tìm hiểu khám phá và nhận thức thế giới xung quanh mình. Piaget chia quá trình phát triển tri thức làm 4 gia đoạn là: giai đoạn cảm giác vận động, giai đoạn tiền thao tác tƣ duy, giai đoạn tƣ duy cụ thể, giai đoạn phát triển tƣ duy trừu tƣợng. Nhìn chung, mặc dù thuyết nhận thức của Piaget còn một số hạn chế song đã cung cấp cho chúng ta một ý tƣởng chung để nhìn thấy sự phong phú và phức tạp của nhận thức.
Nhắc đến các công trình nghiên cứu về nhận thức không thể không kể đến các nghiên cứu của những nhà tâm lý học Liên Xô nhƣ: E.Ximiecnop với nghiên cứu về cảm giác và tri giác, N.Mensunxkaia với nghiên cứu về tƣ duy, Vƣgôtxki quan tâm tới tƣ duy và tƣ duy ngôn ngữ, X. Qua các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô cho thấy: nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào trong não ngƣời, quá trình đó đi theo nhiều mức độ khác nhau và họ cũng đã có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về các mức độ của nhận thức.1] * Các nghiên cứu trong nước: Ở Việt Nam, chƣa có những công trình nghiên cứu sâu về nhận thức. Các nghiên cứu chỉ mang tính chất định nghĩa, khái niệm, những ứng dụng chỉ đƣợc khái quát trên bình diện lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu một cách căn bản. Tác phẩm “Tâm lý học” do Phạm Minh Hạc chủ biên (1989) đã chỉ rõ khái niệm về nhận thức, cách phân loại nhận thức và các mức độ nhận thức.
Ngoài ra, tác giả cũng đã chỉ rõ mối quan hệ khăng khít giữa nhận thức và tâm lý con ngƣời. Theo ông, nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con ngƣời; qua hoạt động nhận thức chúng ta không chỉ phản ánh hiện thực xung quanh ta mà cả hiện thực của bản thân ta nữa, không chỉ phản 14 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ánh cái bên ngoài mà còn cả cái bên trong, không chỉ phản ánh cái hiện tại mà cả cái đã qua và cái sẽ tới, các quy luật phát triển của hiện thực. Trong cuốn “Những khía cạnh tâm lý của quản lý” (1985), Mai Hữu Khuê cho rằng: các sự vật, hiện tƣợng diễn ra trong thực tế có mối quan hệ tƣơng hỗ với thế giới bên trong và tâm lý của con ngƣời; đặc biệt là nghiên cứu về cảm giác của ông, cảm giác là công dụng nhất nối liền ý thức với thế giới bên ngoài còn tƣ duy là nguồn gốc chủ yếu của sự nhận thức. Hiện nay cũng có rất ít nghiên cứu về nhận thức của các bậc cha mẹ nói chung, có thể kể đến nhƣ đề tài “Nhận thức của các bậc cha mẹ về giáo dục đạo đức trong gia đình cho trẻ từ 3 – 6 tuổi tại Hà Nội”, “Nhận thức của các bậc cha mẹ về giáo dục đạo đức đối với con cái trong gia đình hiện nay tại xã Thạch Bình – Thạch Thành – Thanh Hóa”, “Tìm hiểu nhận thức của cha mẹ về tổn thương sức khỏe tâm thần trẻ em” của Trần Thành Nam (2002, luận văn tốt nghiệp… ).
Các nghiên cứu về giáo dục trẻ tự kỷ: * Các nghiên cứu ở nước ngoài: Năm 1943, Kanner (Đại học John Hopkins – Hoa Kỳ) là ngƣời đầu tiên đã mô tả nhóm trẻ đặc biệt này. Từ đó sự quan tâm của giới khoa học ngày càng tăng về vấn đề này. Đã có nhiều học thuyết giải thích về căn nguyên của tự kỷ và hành vi thực sự của những trẻ bị tình trạng này mới đƣợc dần dần quan sát và mô tả thật chi tiết. Sau đó, nhiều công trình nghiên cứu ra đời đã góp phần phát hiện sớm và cải thiện chất lƣợng cuộc sống của trẻ tự kỷ.
Năm 1962, các cha mẹ và các nhà chuyên môn quan tâm đến vấn đề tự kỷ đã thành lập hiệp hội tự nguyện đầu tiên của nƣớc Anh, nay gọi là “Hội tự kỷ quốc gia”. Nhờ những cố gắng của hội này, cùng với tác dụng của tuyên truyền của các phƣơng tiện truyền thông mà mọi ngƣời biết đến nhiều hơn về chứng tự kỷ. Các nghiên cứu về phát hiện sớm tự kỉ có một vai trò và ý nghĩa quan 15 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trọng đối với hiệu quả can thiệp. Chẩn đoán sớm tự kỉ liên quan nhiều đến việc phát hiện của cha mẹ về sự khác thƣờng của trẻ, có thể kể đến các nghiên cứu của Bron - Cohen (2000) và Siklos, Kerns (2007), De Giacomo và Fombonne (1998), Filipek (2000), Conrod và cộng sự (2004).
Các nghiên cứu này đều chỉ ra việc cha mẹ có lo lắng đầu tiên về trẻ là sự chậm phát triển ngôn ngữ và có sự bất thƣờng trong quan hệ xã hội. Can thiệp sớm có ý nghĩa quan trọng với bản thân trẻ có rối loạn tự kỉ, gia đình và xã hội. Hiện nay có hơn 10 phƣơng pháp đang đƣợc sử dụng phổ biến trong can thiệp cho trẻ có rối loạn phổ tự kỉ, có thể kể ra các phƣơng pháp nhƣ ABA, TEACCH, PECS, DIR,. Riêng nghiên cứu về phƣơng pháp phân tích hành vi ứng dụng (ABA) từ năm 1987 - 2006 đã có hơn 500 công trình nghiên cứu đƣợc công bố.15] Humphrey và Parkinson (2006) chia các công trình nghiên cứu về tự kỷ thành 2 nhóm: nhóm nghiên cứu về chƣơng trình can thiệp toàn diện và nhóm nghiên cứu về phƣơng pháp dạy trẻ cụ thể.
Theo đó, 2 chƣơng trình can thiệp toàn diện nổi tiếng và đƣợc ứng dụng rộng rãi ở các nƣớc có thể kể đến can thiệp tăng cƣờng cho hành vi dựa trên phân tích hành vi ứng dụng đƣợc thực hiện đầu tiên do Viện can thiệp sớm Lovaas và chƣơng trình TEACCH (Điều trị và giảng dạy cho trẻ có rối loạn tự kỷ và khó khăn trong giao tiếp); ngoài ra còn có chƣơng trình Daily Life Therapy, chƣơng trình Sonrise, chƣơng trình Hanen. Nhóm nghiên cứu các phƣơng pháp can thiệp cụ thể tìm kiếm những biện pháp cải thiện những lĩnh vực phát triển cụ thể mà trẻ gặp khó khăn nhƣ hành vi, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tƣơng tác xã hội, nhạy cảm về giác quan. Chẳng hạn nhƣ phƣơng pháp Sử dụng hình ảnh dụng cải thiện khả năng giao tiếp của trẻ (PECS), phƣơng pháp trị liệu cảm giác vận động, trị liệu bằng âm nhạc, dạy trẻ tự kỷ hiểu nội tâm ngƣời khác (phƣơng pháp của Simon Baron – Cohen).3] Mặc dù chƣa đạt đƣợc sự thống nhất hoàn toàn về một số vấn đề cơ bản liên quan đến rối loạn phổ tự kỉ (nhƣ nguyên nhân dẫn đến trẻ có rối loạn phổ 16 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com tự kỉ, xem rối loạn phổ tự kỉ là một rối loạn phát triển thể chất hay tinh thần.) song có thể nói rằng những thành tựu trong nghiên cứu về rối loạn tự kỉ là rất đáng kể, điều này đƣợc thể hiện qua các phƣơng pháp ngày càng hoàn thiện. * Các nghiên cứu trong nước: Ở Việt Nam, rối loạn tự kỉ (Autism Disorder – AD) chỉ thực sự đƣợc biết đến ở những năm đầu thế kỉ XXI và các nghiên cứu về rối loạn phổ tự kỉ cũng chỉ đƣợc tiến hành trong vài năm gần đây.
Trong một loạt các tài liệu hƣớng dẫn về phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng đƣợc Bộ y tế biên soạn thì hội chứng tự kỷ cũng đƣợc nhắc đến trong cuốn số 15. Nội dung cuốn sách bao gồm những kiến thức cơ bản nhất về khái niệm, triệu chứng, cách phát hiện, các biện pháp chăm sóc và phục hồi chức năng cho trẻ tự kỷ. Ngoài ra, tài liệu cũng cung cấp một số thông tin cơ bản về những nơi có thể cung cấp dịch vụ cần thiết mà gia đình trẻ tự kỷ có thể tham khảo. [2] Năm 2007, Nguyễn Thị Diệu Anh cùng các cộng sự đã thực hiện nghiên cứu “Ứng dụng việc chăm sóc tại nhà cho trẻ có rối loạn tự kỷ”.