Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Giới thiệu về cây Thổ nhân sâm 1. Đặc điểm phân loại và hình thái cây Thổ nhân sâm Thổ nhân sâm có tên khoa học là: Talinum crassifolium Willd (Talinum patens L., Talinum panicuiatum Gaertn). Ngoài ra, cây Thổ nhân sâm còn một số tên gọi khác: Sâm cao ly, Thổ sâm cao ly, Giả nhân sâm, Sâm thảo, Sâm đất [31].
Thổ nhân sâm thuộc giới thực vật (Plantae), ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta), lớp Ngọc Lan (Magnoliopsida), bộ Cẩm Chướng (Caryophyllales), họ Rau Sam (Portulacaceae), chi Sâm mùng tơi (Talinum) [34]. Thổ nhân sâm là cây thân thảo, sống hằng năm, cao 30-50 cm, thân hình trụ nhẵn, phân cành ngay từ gốc [8]. Lá mọc so le, dày gần như không có cuống hoặc cuống rất ngắn, hình bầu dục hoặc hình trứng, gốc thuôn, đầu tù hoặc hơi nhọn, gân lá mờ, hai mặt nhẵn gần như cùng màu, phiến lá dày, lá dài 5 - 7cm, rộng 2,5 - 3,5cm [8]. Cụm hoa là một chùy kép mọc ở đầu cành, gồm nhiều hoa nhỏ đường kính ước 6mm, tràng 5 cánh hoa màu tím đỏ nhạt, đài có hai răng nhỏ, tràng năm cánh nhọn, nhị nhiều, bầu thượng hình cầu [8].
Quả nhỏ, hình cầu, khi chín màu đỏ nâu; hạt dẹt, rất nhỏ, màu đen nhánh, trên mặt hơi nổi vân. Củ gần giống củ nhân sâm [8]. Mùa ra hoa tháng 6-7, có quả tháng 9-10 [8].1: Cây Thổ nhân sâm ngoài tự nhiên [31] Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail. Đặc điểm phân bố cây Thổ nhân sâm Thổ nhân sâm có nguồn gốc từ Trung Mỹ, du nhập vào Việt Nam khoảng năm 1909, sau đó mọc hoang khắp nơi, ra hoa quanh năm [8].
Thổ nhân sâm cũng mọc hoang và được trồng làm cảnh ở một số tỉnh của Trung Quốc như: Triết Giang, Giang Tô, An Huy, Quảng Tây, Quảng Đông, Tứ Xuyên, người ta gọi cây này với tên Thổ nhân sâm, Thổ cao ly sâm, v.v… và cũng dùng làm thuốc bổ thay sâm [6], [8]. Ở Việt Nam, Thổ nhân sâm là cây trồng tự nhiên để làm thuốc, lấy rau ăn và trồng làm cảnh. Cây gặp nhiều ở các tỉnh: Thái Nguyên, Bắc Kạn, Hà Giang, Tuyên Quang, Hòa Bình, Lạng Sơn, Cao Bằng, Hải Phòng, Nghệ An…[6]. Đặc điểm sinh thái, trồng trọt cây Thổ nhân sâm Thổ nhân sâm ưa đất ẩm nhưng nhiều ánh nắng, rất dễ trồng, có thể thu hoạch lá quanh năm.
Khi thu hoạch thì cắt nhánh để đâm chồi, cho ra lứa rau sâm khác. Ngoài ra, rau sâm còn được trồng trong các chậu kiểng vì cây cho ra hoa bé xinh, phớt hồng rất đẹp [8]. Thổ nhân sâm có thể trồng từ rễ củ hoặc từ hạt. Có thể trồng trong vườn, trong chậu cảnh hay thùng xốp.
Cây mọc khỏe, sau 2 - 3 tháng có thể hái ngọn và lá làm rau ăn, sau một năm có thể thu hoạch củ, nếu để lâu năm củ sẽ to hơn. Lá và cành non dùng để nấu với thịt, tôm… Nấu canh rau vị thơm mát dễ chịu gần giống rau mùng tơi [13]. Nguồn giống từ hạt Hạt giống sau khi thu hái được xử lý bằng nước ấm (2 sôi + 3 lạnh) ngâm trong nước khoảng 6 - 8 giờ, vớt ra để ráo, dùng que nhọn chọc lỗ sâu 1cm rồi cho hạt vào (2 - 3 hạt/lỗ), lấp kín đất, dùng lưới che nắng cho luống gieo [13]. Nguồn giống từ hom Chọn hom: hom được lấy từ thân hoặc củ cây mẹ, lấy từ đoạn gốc đến hết phần bánh tẻ của thân, hạn chế lấy phần ngọn quá non, dễ bị thối gốc khi giâm.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 6 Dùng dao hay kéo sắc để cắt hom. Hom được cắt từ thân có chiều dài khoảng 10 - 20cm và ít nhất trên mỗi hom có 3 - 4 mắt lá, tỉa bớt lá trên hom còn chừa khoảng 1/3 lá, đem giâm vào luống. Thường xuyên tưới ẩm. Sau khi giâm 15 - 20 ngày hom giâm bắt đầu ra rễ thì đem trồng [13].
Cách trồng bằng hạt: Cây không kén đất, đất nào cũng mọc được trừ những nơi ngập úng. Đất cày bừa lên thành luống cao 20 - 25cm, bón lót 10 - 15 tấn/ha phân chuồng, rạch thành hàng cách nhau 20cm. Hạt gieo theo hàng, sau tỉa bớt, giữa các cây cách nhau khoảng cách 10 - 15cm. Đất trồng pha trộn theo tỷ lệ: 80% đất thịt + 10% tro trấu hoặc rơm mục + 10% phân chuồng ủ hoai.
Thường xuyên tưới nước giữ ẩm cho đất, đặc biệt vào mùa nắng hạn. Thường xuyên làm cỏ, xới xáo, vun gốc, bón thúc bằng nước phân chuồng, nước giải hoặc đạm pha loãng. Kết hợp nhổ cỏ dại và phòng trừ sâu xám ăn lá và chồi non. Thổ nhân sâm ra hoa quả hàng năm, mùa ra hoa tháng 6 - 7, mùa ra quả tháng 9 - 10.
Khi quả chín cần thu hoạch kịp thời nếu không quả sẽ bị tách làm hạt bị rụng. Đem phơi cả quả, khi khô đập lấy hạt rồi phơi hạt trong nắng yếu cho khô. Hạt tốt là những hạt có màu đen nhánh, bóng. Bảo quản trong lọ sành, để nơi khô ráo [13].
Thổ nhân sâm thường dùng củ. Loại cây một năm đã có thể thu hoạch rễ củ, nhưng tốt nhất là sau ba năm. Nếu dùng ngay cắt rễ con bỏ đầu để cả vỏ thái miếng sấy nhẹ lửa (60 - 700C) cho khô. Nếu để lâu, đồ chín, bỏ rễ con, để cả củ (hoặc thái miếng), sấy nhẹ lửa cho khô.
Lúc mới đào rễ có màu hồng đẹp. Đem phơi hay sấy khô và để lâu sẽ có màu đen xám. Khi dùng thái mỏng, tẩm nước gừng hoặc nước đường, đồ chín. Lá thu hoạch quanh năm [13].
Thành phần hóa học và giá trị dược liệu của cây Thổ nhân sâm Nghiên cứu về thành phần hóa học trong cây Thổ nhân sâm, người ta đã phát hiện có các chất phitosterol, saponin, flavonoid, tannin, steroid và các chất vô cơ kali, natri, canxi, magie, sắt. Rễ chứa I-hexacosanol, I- octacosanol, I-triacontanol, campestrol, stigmasterol, jo-sitostero, rễ còn có dẫn xuất phenolic [6]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 7 Theo y học hiện đại, người ta đã nghiên cứu chất octacosanol trong cây Thổ nhân sâm có tác dụng chống siêu vi gây bệnh Herp, các viêm nhiễm ngoài da, hỗ trợ chữa bệnh Parkinson, bệnh tim và làm hạ Cholesterol máu [31]. Theo y học cổ truyền, Thổ nhân sâm có vị ngọt, tính bình, có tác dụng bổ trung ích khí, nhuận phế sinh tân [10].
Thổ nhân sâm thường dùng chữa suy nhược ốm yếu, thể hư ra nhiều mồ hôi, tỳ hư tiêu chảy, đái dầm, kinh nguyệt không đều, thiếu sữa…[6]. Theo kinh nghiệm, nhân dân ta thường dùng lá Thổ nhân sâm nấu ăn cho mát, để giải nhiệt, dễ tiêu hóa, nhuận tràng. Lá Thổ nhân sâm giã nát dùng ngoài để chữa các vết loét, ung nhọt. Củ dùng làm thuốc bổ, chữa suy nhược cơ thể, chữa ho, người ra nhiều mồ hôi, đái dầm, kinh nguyệt không đều, thiếu sữa, ngày dùng 20 - 30g sắc uống trong ngày.
Có thể dùng rễ Thổ nhân sâm thái nhỏ, hãm với nước sôi làm trà uống hàng ngày [31]. Trên thế giới nhiều nước dùng Thổ nhân sâm làm thuốc bổ. Tại Indonesia còn dùng chữa các bệnh về gan thận và làm thuốc tăng kích dục. Tại Dominique nước cốt sắc từ lá Thổ nhân sâm dùng chữa đau cổ [31].
* Một số bài thuốc theo kinh nghiệm dân gian Bài 1: Chữa tiểu tiện nhiều, hỗ trợ đái tháo đường Thổ nhân sâm 60g, kim anh tử 60g, các vị trên cho vào ấm đổ 550 ml nước, sắc nhỏ lửa còn 250 ml nước chia 2 lần uống trong ngày, 5 ngày một liệu trình [6]. Bài 2: Bổ khí huyết - chữa khí huyết yếu, người xanh gầy, thở yếu, hồi hộp, ít ngủ, kém ăn, mệt mỏi Thổ nhân sâm 40g, sắc nước uống trong ngày, cho vào ấm đổ 400ml nước, sắc nhỏ lửa còn 150 ml nước chia 2 lần uống trong ngày, 10 ngày một liệu trình [6]. Bài 3: Chữa đại tiện lỏng do tỳ hư Thổ nhân sâm 30g, đại táo 15g, cho vào ấm đổ 550 ml nước, sắc uống thay trà trong ngày [6]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 8 Bài 4: Hỗ trợ điều trị ho lâu ngày Thổ nhân sâm, hà thủ ô trắng, thông thảo, mỗi vị 20g, gà một con nhỏ tương đương với 400g.
Cách chế biến: Cho các nguyên liệu trên rửa sạch cho vào nồi hầm gà thêm khoảng 80 phút đến khi nước canh có màu trắng sữa, khi gà chín nhừ, hớt bỏ bớt mỡ, múc gà ra một bát to, đổ hết nước hầm lên, bổ sung thêm muối và hạt tiêu [6]. Bài 5: Chữa mồ hôi trộm Thổ nhân sâm 60g, dạ dày lợn nửa cái. Cách chế biến: Dạ dày làm sạch để ráo, cho vào nồi hầm Thổ nhân sâm, khi dạ dày chín nhừ bổ sung thêm muối và hạt tiêu [6]. Bài 6: Người mới ốm dậy, sau phẫu thuật Sườn lợn 300g, hoàng kỳ 200g, Thổ nhân sâm 200g.
Xương sườn lợn luộc qua rồi vớt bỏ bọt, hoàng kỳ sắc kỹ lấy nước, đun nhỏ lửa và om kỹ, khi đạt độ nhừ cho Thổ nhân sâm vào đun tiếp 5 - 10 phút, nêm gia vị vừa đủ ăn với cơm, mỗi tuần có thể ăn 2 - 3 bữa [6]. Bài 7: Chữa táo bón Lá Thổ nhân sâm, rau đay, mùng tơi, liều vừa đủ nấu canh cua ăn thường xuyên [6]. Khái quát về nuôi cấy mô tế bào thực vật Nuôi cấy mô tế bào thực vật được hình thành và phát triển từ những năm 80 của thế kỉ XX và được ứng dụng chủ yếu trong các lĩnh vực: Nhân giống vô tính in vitro, nuôi cấy mô phân sinh hoặc đỉnh sinh trưởng để tạo cây sạch bệnh, bảo quản nguồn gen in vitro, tạo phôi vô tính và hạt nhân tạo…[7]. Kỹ thuật nuôi cấy mô đã được trên 600 công ty lớn trên thế giới áp dụng và đã nhân được khoảng 500 triệu cây giống trong 1 năm ở các công ty giống cây trồng khác nhau.
Dự kiến trên thị trường cây giống, kỹ thuật nuôi cấy mô thu được khoảng 15 tỉ USD/năm và tốc độ tăng trưởng của thị trường này hàng năm vào khoảng 15% [7]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn download by : skknchat@gmail.com 9 Trong những năm gần đây, quy trình nhân giống bằng kỹ thuật nuôi cấy in vitro được nhiều cơ sở khoa học nghiên cứu và hoàn thiện trên các đối tượng khác nhau như: Cây rừng, cây lương thực, thực phẩm, cây ăn quả, hoa, cây cảnh, cây dược liệu…[7]. Rừng Việt Nam chiếm diện tích lớn nhưng hiện nay đã bị chặt phá do nhiều nguyên nhân khác nhau.