CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ RỦI RO TRONG CHI TIÊU THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 1. Khái quát về Ngân sách nhà nước, Chi tiêu công và Chi thường xuyên 1. Chi thường xuyên ngân sách nhà nước Chi thường xuyên ngân sách nhà nước là qúa trình phân phối, sử dụng vốn Ngân sách nhà nước để đáp ứng cho các nhu cầu chi, gắn liền với thực hiện các nhiệm vụ của nhà nước về lập pháp, hành pháp, tư pháp và một số dịch vụ công cộng khác mà nhà nước vẫn phải cung ứng. Chi thường xuyên gắn với chức năng quản lý xã hội của nhà nước, tồn tại dưới hai dạng: (i) Chi sự nghiệp kinh tế, văn hóa xã hội, gắn với con người; (ii) Chi quản lý Nhà nước, xã hội, gắn với công việc; Chi thường xuyên của ngân sách nhà nước có 4 đăc trưng: (i) Mang tính ổn định, không ảnh hưởng bởi chu kỳ kinh tế, nếu có chỉ khác ở thứ tự ưu tiên trong giải quyết các công việc.
Có hiệu lực tác động trong khoảng thời gian ngắn; (ii) Việc lựa chọn phạm vi và mức độ cung ứng các hàng hóa công cộng cũng sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến phạm vi và mức độ chi thường xuyên; (iii) Việc sử dụng kinh phí thường xuyên chủ yếu chi cho con người, mang tính chất tiêu dùng xã hội, đáp ứng các nhu cầu chi để thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước về quản lý kinh tế, quản lý xã hội ngay trong năm ngân sách hiện tại, trong dài hạn mang tính chất chi tích luỹ nên không làm tăng thêm tài sản hữu hình của quốc gia; (iv) Hiệu quả của chi thường xuyên không thể đánh giá, xác định cụ thể, không chỉ đơn thuần về mặt kinh tế mà được thể hiện qua sự ổn định chính trị - xã hội từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Nhìn chung, các khoản chi thường xuyên chủ yếu là chi cho các hoạt động hành chính sự nghiệp, mang tính tiêu dùng nhằm mục đích nâng cao trình độ dân trí, sức khỏe thể chất và tinh thần cho người dân. Bên cạnh đó, khoản chi này còn tạo động lực gián tiếp để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đảm bảo trật tự xã hội. Chi thường xuyên tập trung vào 5 nội dung chính: - Các khoản chi thanh toán cho cá nhân, như: tiền lương, tiền công, phụ cấp lương, các khoản đóng góp theo lương, tiền thưởng, phúc lợi tập thể và các khoản thanh toán khác cho cá nhân theo quy định; - Các khoản chi nghiệp vụ chuyên môn, như: chi thanh tóan dịch vụ công cộng, chi thuê mướn, chi vật tư văn phòng, chi công tác phí, chi các khoản đặc thù, chi sửa chữa thường xuyên tài sản cố địnhphục vụ công tác chuyên môn, chi đoàn ra đoàn vào; - Chi mua sắm tài sản, trang thiết bị, phương tiện vật tư không theo các chương trình dự án sử dụng nguồn kinh phí thường xuyên; - Các khoản chi phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí theo quy định, như: chi cho lao động trực tiếp thu phí, lệ phí; - Các khoản chi thường xuyên khác, cho các hoạt động sự nghiệp văn hóa, xã hội,.; Các hoạt động sự nghiệp kinh tế ở các cơ quan Nhà nước; Các hoạt động quản 9 Luan van lý nhà nước; Quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội; Hoạt động của các cơ quan trung ương của Nhà nước, Tổ chức chính trị xã hội; Trợ giá theo chính sách của Nhà nước; Các chương trình quốc gia; Hỗ trợ quỹ bảo hiểm xã hội; Trợ cấp cho các đối tượng chính sách xã hội; Hỗ trợ cho các Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức nghề nghiệp; Các khoản chi khác theo quy định của pháp.
Tác động của bội chi ngân sách nhà nước + Xác định bội chi Ngân sách nhà nước Bội chi ngân sách nhà nước xảy ra khi tổng chi lớn hơn tổng thu của một năm. Bôi chi Ngân sách nhà nước nói chung và bội chi thường xuyên có ảnh hưởng lớn đến tình hình tiền tệ, cầu trong nước và cán cân thanh toán trong vùng. Tuy nhiên, cùng mức bội chi nhưng tác động khác nhau, vì còn phụ thuộc vào cơ cấu thu, chi; nguồn bù đắp bội chi và tỷ lệ phần trăm bội chi so với GDP. Hậu quả của Bội chi dẫn đến nhà nước phải lạm phát hành tiền sẽ kéo theo lạm phát.
Nếu vay nước ngoài quá nhiều sẽ kéo theo sự phụ thuộc. Nếu giảm dự trữ ngoại hối quá nhiềusẽ dẫn đến khủng hoảng tỷ giá. Nếu vay quá nhiều trong nước sẽ làm tăng lãi suất. Nói chung, cái vòng nợ - trả lãi - Bội chi sẽ làm tăng mạnh các khoản nợ công chúng.
+ Nguyên nhân bội chi ngân sách nhà nước, có 2 nhóm: - Nhóm nguyên nhân khách quan, do tác động của chu kỳ kinh doanh như khi kinh tế bị khủng hoảng sẽ làm cho thu Nhà nước bị co lại nhưng nhu cầu chi lại tăng; Khi kinh tế thịnh vượng, thu Nhà nước tăng, chi không đổi, bội chi giảm; Ngoài ra do thiên tai, địch hoạ … cũng làm giảm thu, tăng chi; - Nhóm nguyên nhân chủ quan, chủ yếu do tác động của cơ cấu thu chi. Khi Nhà nước đẩy mạnh đầu tư, kích thích tiêu dùng sẽ làm tăng mức bội chi. Ngược lại, khi nhà nước có sai lầm trong chính sách, trong công tác quản lý kinh tế - tài chính … sẽ làm cho nền kinh tế trì trệ dẫn đến bội chi tăng, Ngoài ra bội chi cũng còn do tham nhũng, lãng phí trong sử dụng Ngân sách nhà nước. + Bội chi các quỹ ngân sách nhà nước tac động trên hai khía cạnh kinh tế và xã hội: - Tác động tới kinh tế, Bội chi tác động tới cung: Nếu bội chi có thể kiểm soát, sẽ thúc đẩy cung.
Nếu không kiểm soát, cung sẽ bị ngưng trệ, thậm chí kinh tế sẽ bị đình đốn. Bội chi tác động tới cầu: Nếu bội chi kiểm soát được, cầu cũng tăng nhưng tốc độ nhỏ hơn cung; Nếu kg thể kiểm soát được sẽ làm cầu sụt giảm mạnh; - Tác động tới xã hội, Bội chi nếu kiểm soát được sẽ gây ra nhiều hiệu ứng xã hội tích cực. Nếu không kiểm soát được sẽ gây ra nhiều hiệu ứng xã hội tiêu cực. Bội chi Ngân sách nhà nước đặt ra nhiều thách thức.
Nếu Bội chi ngân sách cao và liên tục tăng khiến chính quyền sẽ phải đối mặt với tình trạng mất cân bằng ngân sách; Dù nợ công vẫn nằm trong ngưỡng cho phép nhưng nhà nước vẫn phải đối mặt với nhiều rủi ro lớn; Việc thay đổi tỷ trọng chi thường xuyên trong tổng chi Ngân sách nhà nước, tốc độ cao nếu vẫn tiếp diễn sẽ gây áp lực về tài chính công; Nhu cầu cải cách hành chính công và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, làm thế nào để duy trì 10 Luan van bộ máy hợp lý, nâng cao hiệu quả và hiệu suất làm việc; Phân cấp, định mức, thẩm định giá trong chi ngân sách nhưng hiệu quả của phân cấp và định mức và thẩm định giá trong ngân sách ở chính quyền chưa thực sự rõ ràng. Để khắc phục bội chi, ngoài việc tiết kiệm chi, có thể khai thác các dư địa cho tăng trưởng kinh tế, như: Rà soát lại các mục tiêu chi tiêu công theo khuôn khổ chính sách nhất quán hơn, gắn kết tốt hơn giữa chi tiêu và mục tiêu; Giảm tỷ lệ chi thường xuyên, giảm tăng biên chế của chính quyền, phát triển bộ máy hành chính linh hoạt, năng lực cao; Xem xét lại mức độ phân cấp chi ngân sách cho địa phương gắn với hiệu quả tổng thể kinh tế - xã hội, hạn chế rủi ro do tham nhũng, lãng phí, tạo ra cơ chế khuyến khích kết nối giữa các bộ phận hành chính sự nghiệp trong nhu cầu chi tiêu; Phân cấp chi tiêu cần gắn liền với trách nhiệm giải trình và năng lực quản lý của địa phương…; Cải cách chi tiêu công để giảm chi thường xuyên và giảm nợ công; Tái cơ cấu lại ngân sách, kể cả thu và chi, chấp hành nghiêm kỷ luật tài khóa, nâng cao hiệu quả đầu tư, nâng cao chất lượng tăng trưởng thông qua tăng năng suất và hiệu quả. Nền tảng của quản lý chi tiêu công và quản lý chi thường xuyên 1. Lý thuyết cung cấp hàng hóa công và dịch vụ công hiệu quả 1.
Cơ sở lý thuyết cung cấp hàng hóa và dịch vụ công hiệu quả Hàng hóa công cộng là loại hàng hóa mà tất cả mọi thành viên trong xã hội có thể sử dụng chung với nhau. Việc sử dụng của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác. Theo Paul Samuelson, hàng hóa công là những loại hàng hóa mà chi phí để nhận dịch vụ từ nó đối với mỗi người là bằng 0, không thể cấm mọi người cùng sử dụng. Theo Joseph Stighlitz, hàng hóa công là những loại hàng hóa mà việc một cá nhân này đang hưởng thụ lợi ích do hàng hóa đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó.
Để một hàng hóa trở thành hàng hóa công cộng, cần phải thỏa mãn: không phải được dành riêng cho ai, không ai có quyền sở hữu cá nhân. Và việc sử dụng hàng hóa công của người này không ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng của người khác, bởi vì chi phí tăng thêm để tiêu dùng hàng hóa tăng thêm là rất nhỏ, gần như bằng không. Đây là lý do khu vực tư nhân không tham gia sản xuất hang hóa công mà chỉ dành cho nhà nước. Nếu không, nó sẽ được cung cấp và tiêu dùng dưới mức hiệu quả xã hội.
Vì lý do này nên hàng hóa công đã tạo ra một dạng thất bại thị trường. Nghiên cứu cung cấp hàng hóa công hiệu quả dựa vào nền tảng của hai lý thuyết: - Điều kiện Samuelson: MC = MR (chi phi biên tế = doanh thu biên tế) - Cân bằng Lindahl: MC = MR 11 Luan van Hình 2. Tính không hiệu quả khi khu vực tư cung cấp hàng hóa công Nguồn: wikipedia Hình 2. Hàng hóa công cộng có thể loại trừ nhưng chi phí rất lớn Nguồn: wikipedia 1.
Các mô hình cung cấp hàng hóa, dịch vụ công Việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ công có thể được thực hiện chủ yếu thông qua sự kết hợp giữa nhà nước và doanh nghiệp, về cơ bản có bốn hình thức: - Mô hình "Nhà nước cung ứng tài chính và Nhà nước tổ chức cung ứng hàng hóa, dịch vụ công”.