đặt vấn đề nghiên cứu thể loại này một cách nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, việc xác định phạm vi thể loại và quan niệm về tiểu thuyết trinh thám của các tác giả không hoàn toàn đồng nhất. Fosca, nhà nghiên cứu ngƣời Pháp, nhấn mạnh đến tính trí tuệ, khoa học của tiểu thuyết trinh thám, mà ông gọi đó là “tiến trình xét đoán đặc biệt”. Ông cho rằng: “Trong các nét chung có thể định nghĩa tiểu thuyết trinh thám như một câu chuyện kể về sự săn đuổi con người, nhưng - và đây là đáng kể - chuyện về một sự săn đuổi mà trong đó được sử dụng tiến trình xét đoán đặc biệt, cho phép lý giải những sự kiện bề ngoài không đáng kể để từ chúng có thể có được một kết luận nhất định… Thiếu điều đó tiểu thuyết kể về sự săn lùng con người sẽ không là tiểu thuyết trinh thám, mà là tiểu thuyết phiêu lưu… hoặc tâm lý”(64).
ở đây, Fosca đã chỉ ra cốt lõi làm nên đặc trƣng của tiểu thuyết trinh thám là ở “tiến trình xét đoán đặc biệt” mà tác giả cấu trúc để đi đến kết luận cuối cùng chứ không phải ở bản thân câu chuyện mang tính hình sự hay không. Bogamil Rainov, nhà nghiên cứu ngƣời Nga gọi các dạng tiểu thuyết về tội phạm là tiểu thuyết đen (ìồðớỷộ éợỡọớ - tiếng Nga). Đặc thù của tiểu thuyết đen, là “sự trần thuật văn học gắn liền một cách không thay đổi với sự phạm tội” (64). Trong cuốn sách của mình ông phân tích tội phạm nhƣ một chất liệu cốt yếu của thể loại trinh thám.
Thế nhƣng, ông lại coi tiểu thuyết tình báo - phản gián nhƣ một hình thức của tiểu thuyết trinh thám. Tiểu thuyết đen theo cách gọi của B. Rainov, tƣơng đồng với tiểu thuyết trinh thám - roman policier trong tiếng Pháp. Trong cuốn sách của mình, ông còn dẫn ra một số quan niệm khác về tiểu thuyết trinh thám, của R.
Messac, trinh thám, “là tiểu thuyết hay truyện ngắn, trước 9 hết là dành cho sự khám phá có cơ sở logic và nhất quán về phương pháp và các hoàn cảnh chính xác của một sự cố bí ẩn nào đó”(64). Moran thì nhấn mạnh đến khả năng khêu gợi trí tò mò, làm kinh động và lôi cuốn độc giả của tiểu thuyết trinh thám thông qua “một cơ chế khởi động con bù nhìn”(64) hoàn toàn khoa học. André Vanoncini trong cuốn “Le Roman Policier” (Tiểu thuyết trinh thám) loại bỏ tiểu thuyết tình báo - phản gián khỏi phạm vi tiểu thuyết trinh thám, theo ông, nó chỉ là một thể loại anh em với tiểu thuyết trinh thám mà thôi. Trong địa hạt tiểu thuyết trinh thám theo quan niệm của ông có những khuynh hƣớng ông gọi là tiểu thuyết đen và tiểu thuyết kinh dị.
Tiểu thuyết đen nhằm chỉ loại tiểu thuyết trinh thám - hành động miêu tả xã hội trong đó nhân vật điều tra “không ngồi suy ngẫm trong một chiếc ghế phô-tơi” mà “xuống đường phố để quan sát và hành động” (80). Dashiell Hammett, Raymond Chandler, Ross Macdonald (Kenneth Millar) đƣợc coi là những tác gia tiêu biểu của loại này. Khuynh hƣớng tiểu thuyết kinh dị bao gồm loại tác phẩm lấy tiến trình phát triển một âm mƣu làm trung tâm, trong đó chú trọng nhiều đến diễn tiến của tâm lý tội phạm; nhân vật trung tâm thƣờng là tội phạm chứ không phải là thám tử nhƣ trinh thám cổ điển. Với Vanoncini, dù có nhiều khuynh hƣớng khác biệt nhƣ vậy, thì yếu tố cơ bản làm nên một tác phẩm trinh thám vẫn là “nội dung trinh thám được bố trí theo chiều dài một trục trung tâm của biện giải, người điều tra tiến lên theo đó từ bí mật ban đầu thường gắn với nạn nhân của một vụ sát hại cho đến bước giải quyết thường là sự nhận biết kẻ sát nhân”(80).
Quan niệm của Vanoncini cũng là quan niệm có tính phổ quát về cơ cấu tiểu thuyết trinh thám, tức là, một cốt truyện trinh thám không bao giờ thiếu một trong ba yếu tố chính làm nên nội dung của nó: nạn nhân - thám tử - thủ phạm, nhƣng “trục trung tâm” của nó chính là tiến trình điều tra của nhân vật chính - ngƣời điều tra - thám tử. ở Mỹ, nhà nghiên cứu G. John Cawelti coi trinh thám là một thể loại độc lập với tiểu thuyết phiêu lƣu và tiểu thuyết lãng mạn (Adventure, Mystery and Romance, University of Chicago Press, 1976). ở Việt Nam, tiểu thuyết trinh thám lần đầu tiên đƣợc nhận diện trong các nghiên cứu của Vũ Ngọc Phan, cuốn Nhà văn Việt Nam hiện đại.
Theo Vũ Ngọc Phan, các nhà văn trinh thám đầu tiên trong văn học Việt Nam làThế Lữ, Phạm Cao Củng và Bùi Huy Phồn. 10 Một số nghiên cứu gần đây cũng đi đến định hình quan niệm về thể loại trinh thám. Theo Cao Vũ Trân trong bài viết “Georges Simenon và tiểu thuyết trinh thám Pháp thế kỷ XX” thì: “Hiểu một cách chung nhất, tiểu thuyết trinh thám là một loại nghệ thuật xác định tội phạm chủ yếu dựa vào phương pháp suy luận - một trình độ động não ở đẳng cấp cao - trong quá trình nghiên cứu và phát hiện tội phạm. Đây là một thể loại văn học duy lý và kỳ ảo”(73, tr.
Trong những phân tích của mình, Cao Vũ Trân cũng chỉ đề cập đến hình thức trinh thám - điều tra truyền thống. Giáo sƣ Phan Cự Đệ xếp tiểu thuyết trinh thám vào địa hạt của tiểu thuyết phiêu lưu, cho nên một cuốn tiểu thuyết trinh thám trƣớc hết phải mang đặc điểm của tiểu thuyết phiêu lƣu: những biến cố bất ngờ, đầy kịch tính xẩy ra dồn dập trong cốt truyện. Tiểu thuyết trinh thám, theo ông, đó là một trò chơi trí tuệ, nó vừa thoả mãn chức năng giải trí của độc giả nhưng đồng thời phải có chức năng nhận thức, thẩm mỹ, giáo dục của một tác phẩm văn học đích thực (24). Phan Cự Đệ có điểm chung với Bogamil Rainov, xếp tiểu thuyết tình báo - phản gián vào phạm vi tiểu thuyết trinh thám.
Công trình của ông nhắc đến Ông cố vấn của Hữu Mai và Yêu tinh của Hồ Phƣơng nhƣ những tác phẩm văn học trinh thám. Qua một vài quan niệm về tiểu thuyết trinh thám nêu trên, có thể thấy rằng, các nhà nghiên cứu dù không hoàn toàn gặp nhau trong phân định phạm vi thể loại, nhƣng đều có chung quan điểm, coi tiểu thuyết trinh thám là một thể loại văn học duy lý, kết cấu dựa trên một trục trung tâm của sự khám phá bí mật về tội ác, thuyết phục độc giả bằng logic. Theo chúng tôi, tiểu thuyết trinh thám có thể có rất nhiều yếu tố ngoại biên, song cốt lõi của loại tiểu thuyết này là sự khám phá bí mật (liên quan đến tội ác, pháp luật) được trình bày một cách logic, duy lý, thuyết phục, loại bỏ hoàn toàn các yếu tố huyền thoại, phi lý. Tiểu thuyết trinh thám, trong phạm vi quan niệm của chúng tôi, bao gồm cả tiểu thuyết tình báo - phản gián theo cách gọi ở Việt Nam.
Thực tế sau thế chiến thứ hai, môi trƣờng chiến tranh lạnh đã tạo điều kiện cho khuynh hƣớng này phát triển mạnh. Và ở Anh - Mỹ từ lâu đã ra đời và tồn tại khái niệm Political detective hay Political thriller (trinh thám chính trị), nó chỉ loại tiểu 11 thuyết có cốt truyện tình báo - phản gián theo cách gọi ở Việt Nam, trong đó nhân vật chính thay vì là thám tử điều tra tội phạm là nhà tình báo hay điệp viên đi vào địa phận (hàng ngũ) kẻ thù (đại diện cái ác) thực hiện những nhiệm vụ bí mật phục vụ công lý. Vậy, thừa nhận hay không, thì thực tế đã có một loại trinh thám chính trị rất đƣợc ƣa chuộng ở phƣơng Tây, đặc biệt phát triển vào các thập niên 70, 80, 90 của thế kỷ XX. Năm 1989, trong đại hội thành lập Hiệp hội các nhà văn trinh thám quốc tế ở Mexico, vấn đề có hay không tiểu thuyết trinh thám chính trị cũng đƣợc đƣa ra bàn thảo tại diễn đàn hội nghị.
Mặc dù có nhiều ý kiến khác nhau song cũng không đi đến sự đồng nhất có hay không hình thức này. Tuy nhiên, nhà văn Hữu Mai, tác gia viết tiểu thuyết tình báo - phản gián (tác phẩm tiêu biểu Ông cố vấn) đƣợc coi là đại biểu duy nhất của văn học trinh thám Việt Nam. Vậy, trinh thám chính trị, khái niệm đƣợc dùng nhiều trong ngôn ngữ Anh - Mỹ, sẽ đƣợc chúng tôi sử dụng dƣới đây để chỉ loại tiểu thuyết gián điệp ở phƣơng Tây. Đối với hình thức tƣơng tự trong văn học Việt Nam, chúng tôi sẽ sử dụng khái niệm tiểu thuyết tình báo - phản gián, vốn là cách gọi quen thuộc với giới nghiên cứu và bạn đọc trong nƣớc.
Những vấn đề này chúng tôi sẽ trình bày rõ trong các chƣơng sau. Đặc trƣng thể loại I. Tội phạm là chất liệu cuộc sống của tiểu thuyết trinh thám Trƣớc hết một cốt truyện trinh thám bao giờ cũng gắn liền với sự phạm tội. Trong một cuốn sách trinh thám không bao giờ thiếu nhân vật tội phạm.
Đó có thể là kẻ giết ngƣời, là kẻ thù chính trị hoặc quân sự trong trinh thám chính trị (thƣờng là một thế lực, một chính phủ… đƣợc coi là phi nghĩa đứng về phía cái ác cần loại trừ). Không có sự phạm tội thì không thể có tiểu thuyết trinh thám. Nhà nghiên cứu ngƣời Nga Bogomil Rainov đã phát biểu rằng: “Trong sự phát triển của mình tiểu thuyết trinh thám đã gạt bỏ và phá vỡ hầu như tất cả mọi phép tắc đã cố quy định và hạn chế đặc thù của nó, tuy vậy nó vẫn giữ một nét chủ yếu: sự trần thuật văn học gắn liền một cách không thay đổi với sự phạm 12 tội” (64). Tội phạm là chất liệu và luôn luôn là chất liệu cốt yếu nhất của tiểu thuyết trinh thám.
Không có một cuốn tiểu thuyết trinh thám nào lại kể một câu chuyện tách rời khỏi tội phạm và việc vạch mặt tội phạm. Xét từ trong nguồn gốc, truyện trinh thám ra đời là nhằm để đáp ứng nhu cầu nhận thức về tội ác và khát vọng công lý của con ngƣời. Đồng thời, cùng với ái tình, bạo lực dù ở thời đại nào vẫn là hiện thực có tính hấp dẫn vô cùng lớn, trở thành đề tài cho nhiều loại hình nghệ thuật. Truyện trinh thám, hình thức văn chƣơng đại chúng luôn luôn vƣơn đến những con số ấn bản kỷ lục, đƣơng nhiên không có cách thức nào khác là khai thác các vụ hình sự, mà mức độ cao nhất của nó phải là tội ác giết ngƣời.
Van Dine nêu ra trong quy tắc thứ 7 của mình: “Không có việc một tiểu thuyết trinh thám thiếu xác chết.