Chương 1. Cơ sở lý luận về thương mại hóa kết quả nghiên cứu Chương 2. Thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN, thực trạng và rào cản Chương 3. Giải pháp tháo gỡ rào cản trong thương mại hóa kết quả nghiên cứu tại Viện Hàn lâm KHCNVN 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THƢƠNG MẠI HÓA KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1. Các khái niệm cơ bản 1. Khái niệm thương mại hóa Thuật ngữ thương mại ban đầu được dùng để chỉ các hoạt động buôn bán của các thương gia. Ch nh vì thế, theo nghĩa hẹp khái niệm thương mại được hiểu là hoạt động mua bán hàng hóa với mục đ ch kiếm lời.
Cùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, khái niệm thương mại được mở rộng dần sang các lĩnh vực liên quan đến mua bán hàng hóa, ban đầu là các dịch vụ kèm theo như vận tải, bảo hiểm, thanh toán… Ngày nay, khái niệm thương mại được hiểu theo nghĩa rất rộng, là tất cả các hoạt động nhằm mục đ ch sinh lợi từ đầu tư, sản xuất đến phân phối và cả dịch vụ sau bán hàng. Do sự phát triển của thương mại trên phạm vi toàn cầu mà đã nảy sinh nhiều cách hiểu về khái niệm thương mại của nhiều nước. Nhằm mục đ ch giảm bớt sự khác biệt, từng bước nhất thể hóa cách hiểu về pháp luật thương mại trong quan hệ kinh tế quốc tế, ngày 21/6/1985 Ủy ban Pháp luật thương mại Liên hợp quốc (UNCITRAL: United Nations Commission on International Trade Law) đã thông qua Luật mẫu về trọng tài thương mại quốc tế trong đó đưa ra khái niệm về thương mại, theo đó thuật ngữ “thương mại” cần được giải th ch theo nghĩa rộng liên quan đến tất cả các mối quan hệ có bản chất thương mại, dù là quan hệ hợp đồng hay không phải hợp đồng. Những mối quan hệ thương mại gồm, nhưng không giới hạn ở các giao dịch: bất cứ giao dịch thương mại nào về cung cấp hoặc trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ; thỏa thuận phân phối; đại diện hoặc đại lý thương mại; ủy thác hoa hồng (factoring), cho thuê (leasing); xây dựng các công trình; tư vấn; kỹ thuật (engineering); đầu tư; cấp vốn; ngân hàng; bảo hiểm; thỏa thuận khai thác hoặc tô nhượng; liên doanh và các hình thức khác về hợp tác công nghiệp hoặc kinh doanh; chuyên chở hàng hóa hay hành khách bằng đường biển, đường hàng không, đường sắt hoặc đường bộ6.
Theo Jobber (2007) và Dibb (2012), thương mại hóa là quá trình (hoặc chu trình) giới thiệu một sản phẩm mới hoặc một phương pháp mới ra thị trường. 6 Nguyễn Thúy Vi (2009), Luận văn “Pháp luật về trọng tài thương mại quốc tế” 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ điển Free Dictionary đưa ra khái niệm thương mại hóa là sự áp dụng các phương pháp hoặc các hoạt động kinh doanh vì mục đ ch lợi nhuận. Từ điển Oxford lại đưa ra khái niệm thương mại hóa là quá trình đưa một sản phẩm hoặc dịch vụ vào trạng thái sẵn sàng có thể bán được ra thị trường. Từ điển Cambridge Advanced có đưa ra khái niệm thương mại hóa là việc tổ chức cái gì đó để tạo ra lợi nhuận, còn công nghệ là nghiên cứu và tri thức thực nghiệm, đặc biệt là tri thức công nghiệp, sử dụng các phát hiện khoa học.
Pháp lệnh trọng tài thương mại ra đời và có hiệu lực ngày 01/7/2003 nêu rõ: “Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của cá nhân, tổ chức kinh doanh bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ; phân phối; đại diện, đại lý thương mại; ký gửi; thuê; cho thuê; thuê mua; xây dựng; tư vấn; kỹ thuật; li - xăng; đầu tư; tài chính, ngân hàng; bảo hiểm; thăm dò, khai thác; vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển, đường sắt, đường bộ và các hành vi thương mại khác theo quy định của pháp luật”7. Ở Việt Nam, không có nhiều văn bản đưa ra khái niệm về thương mại hóa. Tác giả đã nghiên cứu tìm hiểu trong giới hạn một số loại văn bản liên quan nhưng có rất ít thông tin về khái niệm này. Tại Điều 3, Luật Thương mại năm 2005, hoạt động thương mại hóa theo được định nghĩa: “Hoạt động thương mại hóa là hoạt động sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”8.
Theo tác giả Nguyễn Quang Tuấn đưa ra khái niệm “Thương mại hóa có thể được hiểu một cách ngắn gọn là một quá trình sinh lợi” [16, tr. Trên cơ sở nghiên cứu tổng quan khái niệm thương mại hóa ở phạm vi quốc tế và trong nước, kết hợp với tình hình thực tế tại Việt Nam, tác giả nhận định khái niệm thương mại hóa được đề cập trong Luật Thương mại năm 2005 là phù hợp và sẽ sử dụng khái niệm này xuyên suốt luận văn. Như vậy, tác giả sử dụng khái niệm về thương mại hóa như sau: “Hoạt động thương mại hóa là hoạt động sinh lợi, 7 Lê Hoàng Oanh (2004), Khái niệm thương mại theo pháp luật Việt Nam, tạp chí Khoa học pháp luật 3/2004 8 Luật Thương mại số 36/2005/QH11 ban hành ngày 14 tháng 6 năm 2005 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại, và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. Khái niệm thương mại hóa kết quả nghiên cứu Trong các tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ thương mại hóa kết quả R&D thường được sử dụng đan xen với các thuật ngữ khác như: “thương mại hóa công nghệ”, “thương mại hóa kết quả nghiên cứu”, hay “thương mại hóa hoạt động KH&CN”.
Ở đây, trong giới hạn nội dung của luận văn, tác giả không bàn luận về việc các thuật ngữ có sự khác nhau hay không, hay phân biệt như thế nào. Luận văn chỉ tập trung vào vấn đề thương mại hóa các kết quả nghiên cứu có khả năng ứng dụng vào thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của xã hội. Do đó, trong luận văn này, tác giả sử dụng thuật ngữ “thương mại hóa kết quả nghiên cứu”, “thương mại hóa công nghệ” đồng nhất nghĩa với thuật ngữ “thương mại hóa kết quả R&D”. Theo Siegel và cộng sự (1995), thương mại hóa công nghệ được hiểu theo nghĩa hẹp là sự chuyển hóa công nghệ thành lợi nhuận.
Ở đây, khái niệm thương mại hóa công nghệ theo nghĩa hẹp là việc Siegel và cộng sự chỉ nhấn mạnh vào yếu tố lợi nhuận tài chính mà không phải là lợi ích giữa nói chung. Trong tiếng Anh có sự phân biệt nghĩa rõ ràng giữa “profit” và “benefit”, [38, pg. Còn theo nghiên cứu thương mại hóa công nghệ mới một cách nhanh chóng và có lợi nhuận của Goyal Jay (2006, Commercializing new technology profittably and quickly), thương mại hóa kết quả R&D là hoạt động đưa các ý tưởng, khái niệm vào sản xuất, kinh doanh. Trong khi đó, các nghiên cứu của Isabelle (2004) lại xem việc thương mại hóa kết quả R&D là một quá trình chuyển hóa tri thức nghiên cứu thành các sản phẩm mới (hoặc cải tiến), các quá trình hoặc dịch vụ và giới thiệu chúng ra thị trường để tạo ra các lợi ích kinh tế.
McCoy (2007) là tác giả có khái niệm tương đối giống với Isabelle, định nghĩa thương mại hóa kết quả R&D là quá trình phát hiện tri thức, phát triển các tri thức đó thành công nghệ và chuyển hóa công nghệ thành các sản phẩm mới hoặc các quy trình, dịch vụ được sử dụng hoặc bán ra thị trường9. 9 Isabelle, Diane A (2004), S&T commercialization of federal research laboratories and university research, Carleton University. 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Ở Scotland, thương mại hoá kết quả nghiên cứu được định nghĩa là quá trình chuyển hoá các nghiên cứu thành các sản phẩm bán ở thị trường và các qui trình công nghệ công nghiệp và người ta cho rằng con đường thương mại hoá là quá trình gồm 2 thành phần (Scottish Enteprise, The Royal Society of Edinburgh, 1996): Các hoạt động thương mại của các trường đại học và các viện nghiên cứu, bao gồm "bán" các hoạt động đào tạo, hợp đồng nghiên cứu và cộng tác nghiên cứu và SHTT. Các hoạt động này tạo ra thu nhập cho viện, trường.
Các hoạt động chuyển hoá nghiên cứu khoa học và tri thức khoa học thành sản phẩm thương mại và qui trình công nghệ sản xuất. Kết quả của quá trình này có ý nghĩa tác động lâu dài đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Tại Việt Nam, có nhiều nghiên cứu về thương mại hóa kết quả nghiên cứu tuy nhiên không có nhiều khái niệm chính xác về thương mại hóa kết quả nghiên cứu được đưa ra mà chủ yếu chú trọng bàn về vai trò của thương mại hóa. Nguyễn Quang Tuấn (2013) đưa ra nhận định thương mại hóa kết quả nghiên cứu là một quá trình chuyển hóa các ý tưởng nghiên cứu KH&CN vào sản xuất, đời sống hoặc bất kỳ hoạt động tạo ra lợi ích kinh tế nào khác.
Từ tổng quan nghiên cứu trong nước và quốc tế, tác giả đưa ra khái niệm thương mại hóa kết quả R&D của mình như sau: “Thương mại hóa kết quả nghiên cứu là sự ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào đời sống xã hội và đem lại lợi ích cho xã hội”. Ở đây “lợi ích” trong khái niệm của tác giả bao gồm nhưng không giới hạn lợi ích về mặt ứng dụng KH&CN và lợi nhuận về mặt kinh tế. Khái niệm rào cản 1. Khái niệm McCoy Andrew Patton (2007), Estaclishing a commercialization model for innovative products in the residential construction industry, State University of Virginia.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Rào cản theo từ điển Oxford và từ điển Tiếng Việt là rào chắn hoặc một chướng ngại vật để ngăn, không cho vượt qua, dùng để ví sự trở ngại lớn khiến ngăn cách, cản trở trong việc giao lưu, thông thương10. Theo nhận định của tác giả, rào cản là những tác động gây cản trở đối với việc/ hoạt động nào đó. Do vậy, có thể hiểu, rào cản trong hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu là những tác động gây cản trở đối với hoạt động thương mại kết quả nghiên cứu. Các loại rào cản Có thể phân loại rào cản dựa trên các yếu tố tạo ra rào cản đó, cụ thể như sau: Rào cản do yếu tố khách quan: là những rào cản dựng lên do tác động, ảnh hưởng của môi trường bên ngoài mà ta không lường trước được.
Rào cản do yếu tố chủ quan: là những rào cản do con người và cơ chế do con người đặt ra nảy sinh trong quá trình thực hiện công việc.