Phần mở đầu Giới thiệu sự cần thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi, đối tượng nghiên cứu và cấu trúc của đề tài. Chương 2: Cơ sở lý luận và Phương pháp nghiên cứu Trình bày lý thuyết về đánh giá hàng hóa phi thị trường; công cụ dùng để đánh giá thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất là mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường (WTAC), và phương pháp thực hiện là phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM). Đồng thời, đề cập đến quan niệm của các tổ chức thế giới về thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất và các nghiên cứu trước có liên quan. Trên cơ sở đó xây dựng khung phân tích của đề tài.
Chương này cũng xây dựng mô hình nghiên cứu thực nghiệm các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường của người dân bị thu hồi đất. Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Ngoài việc nêu lên tổng quan về tình hình biến động và thu hồi đất của Huyện Củ Chi giai đoạn (2005 – 2010), đề tài còn đề cập đến những kiến thức và hiểu biết của người dân đối với việc thu hồi đất; Mô tả các yếu tố thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất theo các phương pháp thống kê mô tả; Xác định thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất; và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường. Chương 4: Kết luận và gợi ý chính sách Tóm tắt kết quả nghiên cứu và dựa trên kết quả mô hình nghiên hình nghiên cứu để gợi ý các chính bồi thường thiệt hại vô hình cho người dân bị thu hồi đất. Những hạn chế của đề tài và gợi ý nghiên cứu tiếp theo cũng sẽ đề cập trong Chương này.
5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Để trả lời câu hỏi: thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất là những yếu tố nào? Mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường cho những thiệt hại này là bao nhiêu? và các nhân tố nào ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường? Chương này sẽ căn cứ trên cơ sở lý thuyết và những nghiên cứu thực nghiệm trước có liên quan để làm cơ sở cho việc xác định những thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất; xây dựng phương pháp ước lượng thiệt hại của người dân và đưa ra mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến mức sẵn lòng chấp nhận bồi thường. Các khái niệm cơ bản 2. Khái niệm về thiệt hại vô hình Thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất là một khái niệm khá trừu tượng và hiện cũng chưa có bất cứ một tài liệu hay nghiên cứu chính thức trong và ngoài nước đề cập đến thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất. Do đó thật khó để đưa ra một định nghĩa phù hợp, vì không có căn cứ rõ ràng và chính xác.
Trong nghiên cứu này, việc xác định “thiệt hại vô hình” của người dân bị thu hồi đất dựa trên 03 căn cứ sau: - Thứ nhất, sử dụng thuật ngữ “vô hình” tương đương với thuật ngữ “phi vật thể” của văn hóa phi vật thể, là những giá trị văn hóa, tinh thần con người cảm nhận được. Xét ở một khía cạnh nào đó, thì thiệt hại vô hình chính là những ảnh hưởng về mặt tâm lý, tinh thần, giá trị truyền thống của con người; - Thứ hai, là những thiệt hại liên quan đến các tài sản văn hóa, chi phí cho các hoạt động giải trí và tiêu khiển, sự gắn kết xã hội, sự bền vững về tâm lý, và các dịch vụ môi trường; - Thứ ba, những thiệt hại trong việc trong việc tái khôi phục đời sống sau thu hồi đất. Do đó, các yếu tố nào thuộc một trong ba yếu tố trên được xem là thiệt hại vô hình của người dân bị thu hồi đất. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Thu hồi đất Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn quản lý theo quy định của Luật này (Luật đất đai năm 2003). Tái định cư Tái định cư là biện pháp nhằm ổn định, khôi phục đời sống cho những người bị ảnh hưởng bởi các dự án của nhà nước, khi mà phần đất nơi ở cũ bị thu hồi hết hoặc thu hồi không hết, phần còn lại không đủ điều kiện để tiếp tục sinh sống, phải chuyển đến nơi ở mới. Tái định cư bao gồm tái định cư tự nguyện và tái định cư bắt buộc. Tái định cư tự nguyện: là do nhu cầu cuộc sống người dân tự nguyện di chuyển từ nơi này sang định cư ở nơi khác.
Tái định cư bắt buộc: Dự án phát triển dẫn đến những mất mát của người dân tái định cư là không thể tránh khỏi, trong đó những người bị ảnh hưởng không còn lựa chọn nào khác ngoài việc xây dựng lại cuộc sống, thu nhập và cơ sở vật chất ở bất cứ một nơi nào khác (ADB, 1995) 2. Lý thuyết về đánh giá hàng hóa phi thị trường Một giả thuyết cơ bản của lý thuyết kinh tế học tân cổ điển là con người có sự lựa chọn hàng hóa, cả hàng hóa thị trường và hàng hóa phi thị trường. Nếu không xem xét đến chi phí hàng hóa thì mỗi cá nhân được giả định là có thể lựa chọn những gói hàng hóa theo mong muốn, kết quả là có được thứ tự ưu tiên lựa chọn. Trong thực tế, mỗi cá nhân có thể lựa chọn theo thứ tự những gói hàng hóa mà họ yêu thích.
Yếu tố cơ bản nhất của lý thuyết kinh tế học là sở thích và mức độ yêu thích, đơn giản hơn là nó xuất phát từ mong muốn của các nhân, không phải bằng tiền. Tiền đóng vai trò quan trọng khi cá nhân được cung cấp một số tiền giới hạn để mua một số lượng nhất định hàng hóa, chứ không phải cho tất cả mọi thứ mà họ muốn. Sự lựa chọn của cá nhận được biểu thị thông qua hàm hữu dụng. Giả sử chúng ta có X= (x1,x2,…,xn), trong đó xi đại diện cho hàng hóa thị tường, và k hàng hóa phi thị trường Q= (Q1, Q2,…,Qk).
Theo Flores (2002), hàm hữu dụng đối với 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com một sự lựa chọn gói hàng hóa (X,Q) là U(X,Q). Đối với trường hợp 2 lựa chọn (XA,QA) và (XB,QB) thì U(XA,QA) > U(XB,QB) và như vậy thì (XA,QA) được yêu thích hơn (XB,QB). Vì thế, hàm hữu dụng tượng trưng cho thứ tự ưu tiên lựa chọn. Bây giờ, tiền được đưa vào lưu thông và tiền được chi tiêu cho những hàng hóa được yêu thích là có giới hạn và giá của hàng hóa thị trường là P=(p 1,p2,.,pn) và thu nhập cho trước (y).
Điểm khởi đầu là hàng hóa phi thị trường bị giới hạn trong chất lượng2 và những cá nhân không thể tự lựa chọn mức độ chất lượng của hàng hóa này. Vấn đề lựa chọn cơ bản là làm sao đạt được mức độ hữu dụng cao nhất có thể khi chi tiêu thu nhập (y) cho hàng hóa thị trường với giả định là có sự giới hạn trong chất lượng hàng hóa phi thị trường. Nghĩa là, max U(X,Q) khi P*X ≤ y, Q=Q0 Có hai vấn đề mà người tiêu dùng phải đối mặt. Thứ nhất, tổng chi tiêu cho hàng hóa thị trường không vượt quá thu nhập.
Thứ hai, hàng hóa phi thị trường là cố định. Điều này phụ thuộc vào thu nhập y, giá của hàng hóa thị trường P và mức độ giới hạn của hàng hóa phi thị trường Q. Đối với mỗi hàng hóa thị trường, hàm nhu cầu tối ưu phụ thuộc vào 3 yếu tố x*i= xi(P,Q,y) hay X *i= Xi(P,Q,y). Nếu chuyển hàm nhu cầu tối ưu sang hàm hữu dụng gián tiếp, ta có U(X*, Q) = v((P, Q, y)), bởi vì nhu cầu phục thuộc vào giá, mức độ của hàng hóa phi thị trường, thu nhập và độ hữu dụng đạt được cao nhất cũng phụ thuộc vào 3 yếu tố này.
Giá trị của hàng hóa phi thị trường được đo lường dựa trên sự hợp lý và quyền của người tiêu dùng. Sự hợp lý chỉ ra loại hàng hóa nào mà một cá nhân muốn tiêu dùng và quyền của người tiêu dùng cho phép các nhân lựa chọn hàng hóa tốt nhất dựa trên lợi ích của họ. Do đó, mặc dù hàng hóa phi thị trường không hiện hữu trên thị trường, cá nhân được giả định rằng họ có thể đánh giá được giá trị của nó. Cụ thể, nếu một sự thay đổi trong hàng hóa phi thị trường mà làm cho phúc lợi của một cá nhân tốt hơn, thì cá nhân đó sẽ thích sự cải thiện này và sẵn lòng chi trả cho nó.
Tổng số tiền mà cá nhân đó sẵn lòng chi trả phản ánh giá trị kinh tế của việc cải thiện hàng hóa phi thị trường. 2 Theo Flores, chúng ta có thể lựa chọn những thuộc tính của hàng hóa môi trường như chất lượng không khí và tiếng ồn. Những hàng hóa này là giới hạn xét trong trường hợp chúng ta không thể tự cải thiện chất lượng không khí hoặc tiếng ồn xung quanh nơi ở. Chúng ta có thể di chuyển đến một nơi ở mới có chất lượng không khí tốt hơn, nhưng chúng ta không thể xác định được mức độ của chất lượng không khí tại nơi ở cũ.
8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Mức sẵn lòng trả (WTP) và sẵn lòng chấp nhận (WTA) Mức sẵn lòng trả và sẵn lòng chấp nhận là công cụ dùng để đo lường thay đổi phúc lợi hàng hóa phi thị trường. BC = WTP+x= -CV+x y: hàng DA = WTA-x= CV-x hóa tư DA = EG+x = EV+x nhân BC = EL-x = -EV-x CV: thay đổi bù đắp EG: lợi ích tương đương EV: thay đổi tương đương EL: mất mát tương đương D E y1 A B y0 I’ C I x0 x1 x: hàng hóa công Hình 2. Đo lường sự thay đổi phúc lợi Nguồn: Bateman và Cộng sự, 2002.
Khái niệm về mức sẵn lòng trả, sẵn lòng chấp nhận và mối quan hệ giữa chúng được minh họa bằng Hình 2.1: trục tung (y) đo lường chi tiêu của cá nhân đối với hàng hóa tư nhân, được tính bằng đơn vị tiền. Trục hoành (x) thể hiện một hàng hóa công nào đó. Đường cong bàng quan I và I’ thể hiện những khả năng có thể xảy ra khi kết hợp giữa 2 loại hàng hóa. Mỗi đường cong được xem như tương ứng với mức phúc lợi hay hữu dụng, trong đó I’ tương ứng với mức phúc lợi hay hữu dụng cao hơn.