mở đầu cho một thời kỳ rực rỡ của văn học trung dai. Ở thế kỉ của Nguyễn Trãi - thế kỉ XV- văn học chữ Nom phát triển với thơ Lê Thánh Tông và Hội Tao Đàn; hay ở thế ki XVI, thơ Nom của Nguyễn Binh Khiêm cũng đã tiếp tục đóng góp vào nền thơ dân tộc. Sau Nguyễn Trãi, đặc biết là ở thế kỷ XVIIL văn học Nôm phát triển đến đỉnh cao, chiếm lĩnh văn đàn, át hẳn văn học chữ Hán với những tác phẩm bất hủ của các tác giủ Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Đoàn Thị Điểm góp phan làm rạng rỡ cho van học nước nhà. Trở lại với Nguyễn Trãi, chúng ta thấy: wong sự nghiệp sáng tác của ông, thơ Nôm giữ một vị trí đặc biệt.
Vốn là một trí thức rất coi trọng văn học dân tộc, nén is sáng tác của mình, Nguyễn Trãi viết thơ chữ Nom nhiều hon tơ chữ Hán. Ông viết 254 bài thơ chữ Nôm nhưng chỉ có 100 bài thơ chữ Hán. Không chỉ ở thế ky XV, mà khi dem sơ với những thế kỷ sau, Nguyễn Trãi được xếp là tác giả làm nhiều thơ Nôm nhất trong lịch sử văn học đân tộc. Trong tập thơ quốc âm, toàn bộ các bài thơ chia làm 4 môn lọai: Vô dé, Thời lệnh môn, Hoa mộc môn, Cam thú môn.
Mỗi môn loại ấy gồm nhiều để mục. Mỗi để mục có thể chỉ có một bài thơ, cũng có thể là một chùm thơ. Sau khi đọc tác phẩm. người viết luận văn đã thống kê như sau: - Để mục THỦ VĨ NGÂM _ 1 bài - Để mục NGÔN CHÍ 21 bài - Để mục MAN THUẬT : 14 bài - Để mục TRAN TINH : 9 bài - Để mục THUẬT HỨNG : 25 bài - Để mục TỰ THÁN 41 bài - Để mục TỰ THUAT : 11 bài - Dé muc TUC SU ‘ 4 bai - Để mục BAO KÍNH CẢNHGIỚI : 61 bài © Một số bai thơrời : bài " Về Côn Sơn ngẫu tác ngày Trùng cứu “ , “ Ran sắc “,“ Ran giận “, “ Dạy con trai “ ¢ e© Thời lệnh môn: môn nói về thời tiết, cảnh sắc thiên nhién.
ˆ Ì e Hoa mộc môn: môn nói về các loại cây và hoa. ¢ Cầm thú môn: môn nói về các loài chim và thú. \ Những chùm thơ và những sáng tác theo môn loại như vậy được Nguyễn Trãi sáng tác theo một mạch. Và trong từng chùm thơ, số bài viết nhiều hay ít như đã kể trên là tuỳ thuộc nguồn cảm hứng của tác giả ở mỗi dé tài.
Trong các chùm thơ, thì "Bảo kính cảnh giới” là chùm thơ nhiều bài hơn cả: 61 bài; "Tu than" : đứng thứ hai, 41 bài. Qua việc thống kẻ và rút ra nhận xét này, chúng ta có thể thấy trong thơ Nom, Nguyên Trai chủ yếu bộc lộ nhữag tâm sự những nỗi lòng uẩn khúc của ông khi phải đi ở ẩn, lánh đục tìm trong. Tác giả đã có ý muốn dat để trong tác phẩm thơ Nôm của mình một “tấm gương báu" | 9 |: vừa là tự can mình nhớ luôn luôn tu đưỡng phẩm giá, nhân cách; không uốn lưng theo những thói xấu, nhữag bọn nịnh thắn đương thời; vừa là ran dạy con cháu, người đời phải biết giữ lòng trong, sống thanh khiết, nêu cao nhân cách cao đẹp, giá trị con người như chính tác giả vây. Những bài "Ran sắc", "Ran giận", “Dạy con trai" trong "Quốc âm thi tập” [ 16 : 459, 460 ] như những bài học giáo huấn về cách làm người hết sức nhẹ nhang ma thâm thúy.
Hai trăm năm mươi bốn bài thơ Nôm bang qua lớp bụi thời gian vẫn trong trẻo, sáng tươi trong kho tang văn học dan tộc. Âm vang của những dng thơ Nôm cổ kính, bình dị, đậm đà tinh thần dân tộc chứa đựng tâm hồn lớn, nhân cách lớn Nguyễn Trãi đã đến với chúng ta ngày nay.1, Đạo đức, phẩm chất làm người: Khi xem xét nền đạo đức truyền thống Việt Nam, có người cho rằng không làm gì có một nền đạo đức Việt Nam phân biệt với đạo đức Nho giáo. Người viết bác bỏ quan niệm này. Đạo đức Nho giáo khuôn mẫu, hạn định và cứng nhắc ấp dụng cho mọi thời.
Đạo đức truyền thống Việt Nam có một số điểm thoạt nhìn giống dao đức Nho giáo; nhưng thực chất mang nội dung dân tộc, tinh thần dân tộc mà nét chủ yếu là linh hoạt, uyển chuyển và tùy thời mà quyển biên. Xin đơn cử trường hợp Nguyễn Trãi. Thế ki XIV, XV là thế kỉ Nho giáo thịnh hành trên đất Việt; khác với thời Lý - Trần (thế ki XI - XIII): Phật giáo là quốc giáo. Ngay từ bé, Nguyễn Träi"tắm gội" nhuẩn rừng Nho bể Thánh ở nơi hai trí thức Nho học uyên bác là ông ngoại và cha.
Nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo là luân thường. Hơn ai hết, Nguyễn Trãi học tập ngũ luân: trong ngũ luân không thé không quên quan hệ cha con, và biểu hiện cho quan hệ này là chữ HIẾU. Nhưng "ngộ biến tùng quyển”, Nguyễn Trãi không chấp kinh một cách cứng nhắc tuyệt đối. Ở Nam quan ải,trước tình cảnh nước mất nhà tan, nghe lời cha day bảo, ông tạm gác chữ HIẾU để quay về vẹn chữ TRUNG, TRUNG với Tổ Quốc.
Ảnh hưởng của văn hoá Hán, của đạo đức Nho giáo đối với dân tộc Việt Nam là một sự thật không ai dám phủ nhân. Nhưng cũng nhìn nhận. trước khi văn hóa Hán và Nho giáo vào xứ ta thì nước Văn Lang, Au Lạc của ta đã có một nền văn hóa bản địa độc đáo, đã có một nền đao đức của một cộng đồng nhân dân được tập hợp từ lâu thành nước tự chủ. Làm sao có thể cho rằng: nước Van Lang có lich sử dài hàng nghìn năm mà nhân dân Văn Lang lại không có nền văn hóa, nén đạo đức của riêng mình? Văn hóa ấy.
đạo đức ấy nào phải là bọt nước mà có thể tiêu tan ngay, vùi lấp hẳn một khi va chạm phải quần viễn chỉnh phương Bac? Trái hẳn lại, suốt thời Bắc thuộc, 3 xứ ta đã diễn ra một chuối dài các cuộc đấu tranh vũ trang chính trị và văn hóa hết sức dữ đội, kiên trì, liên tục, trong đó văn hóa và đạo đức dân tộc chúng ta tất nhiên có biến đổi, song đó là biến đổi để mà tổn tại. củng cố, làm nền phát triển cho dao đức con người Văn Lang - Đại Việt: “Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nên văn hiến đã lâu Nui sông bờ cdi đã chia Phong tục Bắc Nam cũng khác”. (Bình Ngô Đại Cáo - Nguyễn Trãi) Quả là có văn hiến, phong tục, đạo đức truyền thống Việt Nam phân biệt với văn hóa Hán, với đạo đức Nho giáo. Yếu tế chính quyết định nội dung và bản sắc của đạo đức truyền thống chính là cuộc sinh tổn lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Ngược dòng lịch sử, chúng ta tìm ra các giá trị đạo đức truyền thống phổ biến, mẫu mực, làm nền cho mọi sinh hoạt tinh thần của nhân dân ta qua tất cả các thời kỳ. Thời Văn Lang xa xăm, thời Bắc thuộc đen tối, thời độc lập lâu dài, cho đến thời kháng chiến phục quốc, trải bao vật đổi sao dời hé nói đến giá trị đạo đức truyền thống của dân tộc ta là nói đến: - yéu nước thương dân. - nhân nghĩa - trung hiếu - cần kim - lạc quan Những giá trị đạo đức có tính nguyên lý này là những nét nhân cách tốt đẹp của con người Đại Việt trong "Quốc âm thi tập"; không chỉ là dao đức và phẩm chất làm người của con người đất Việt thế ki XV mà còn là những phẩm chất đạo đức gần gũi với con người thời nay. © Yéu nước thương dân: Xưa nay lòng yêu nước thương dân bao giờ cũng là phan cao quý nhất, quyết định nhất trong những yếu tố làm nên phẩm giá một con người.
Đọc " Quốc âm thi tap", trong những thao thức, trin trọc; trong niém ưu ái không nguôi của vị anh hùng dân tộc và nhà thơ lớn đầu thế kỷ XV, ta gặp được lòng yêu nước thương dan: "But [10] một tac lòng uu ái cũ Đêm ngày cudn cuộn nước triéu đông” (Thuật hứng 5) Ưu là ưu quốc, ái là di dần; trọn đời lo nước thương dân, Nguyễn Trãi nhiều dém không ngủ. Tâm lòng son sắt ấy lúc nao cũng đấy Ap nhiệt tình nồng thắm đối với đất nước. nhãn dân: Bac Nguyen Banh 18 "Binh sinh độc bão tiên tac chí" (Hải khẩu dạ bac hũu cảm) Ngay từ thời còn trẻ, Nguyễn Trãi đã khẳng định : bình sinh riêng mình luôn ôm ấp cái chí lo trước, Ý chí, hoài bão từ lúc thiếu thời của Ức Trai vẫn là thương yêu dân chúng, làm lợi cho dân; luôn tâm niệm chí "tiên ưu” (ưu dân ái quốc). Cái chí lớn đó, tức cái chí vì dân, vì nước, Nguyễn Trãi canh cánh bên lòng và ông thường nói đi nói lại khá nhiều lần trong thơ Nôm của mình: “Còn có một lòng âu việc nước ‘Dém đêm thức nhẫn nẻo sơ chung ” (Thuật hứng 23) Việc lo nước yêu nước trong trái tim Nguyễn Trãi đã thành tâm huyết, và kết nên tấm lòng ưu ái.
Bằng cái nhìn mới về dân, Nguyễn Trãi coi dân là thành phan hữu co trong mối quan hệ dân - nước, nói nước tức nói din, nước mất thì dan bị dày xéo, cứu nước phải cứu dân. Tâm huyết đẩy dp chí khí đã khiến nhà thơ bật ra nhiều câu thơ "thần" diễn tả trọn vẹn niềm cảm thông sâu sắc với quan chúng nhân dân vàsở nguyện toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân: ” Quốc phi dan cường chẳng có chước Bằng tôi nào thud ích chung dan” (Trần Tình 1) Nhiều năm tháng ở Thăng Long hoặc Côn Sơn, sống bên cạnh đồng bào; mười năm nước mất nha tan phải chạy loạn sống trong lòng dân; gần gũi và thấu hiểu họ; Nguyễn Trãi nghiệm ra lẽ hưng vong của một thời đại, một triểu vua nào đó thịnh trị là do được hay mất lòng dân. Dân là sức mạnh van năng thay thời đổi thế, làm nên bao điều kỳ vĩ. Nói về điều này, Nguyễn Trãi đã có một câu thơ: "Phúc chu thủy tin dân do thay”.
(Quan Hai) Có nghĩa là : Làm lật thuyển mới biết sức dan như sức nước.