Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn Chương 2: Ca chương và hệ thống bài bản nhạc lễ trong tế đàn Xã Tắc. Chương 3: Biên chế dàn nhạc, phương thức hòa tấu, giá trị nghệ thuật và một số vấn đề nhạc khí cung đình hiện nay. 14 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TIỄN 1. Khái niệm nhạc lễ, âm nhạc cung đình và Đàn tế Xã Tắc Nhạc lễ là một bộ phận trong tổng thể nền âm nhạc cổ truyền Việt Nam, bao gồm nhiều loại như: Nhạc lễ tôn giáo, nhạc lễ dân gian, nhạc lễ cung đình.
Dưới triều Nguyễn, nhạc lễ cung đình chỉ là một loại hình trong nhiều loại hình âm nhạc cung đình. Trong phạm vi giới hạn nghiên cứu của đề tài luận án, chúng tôi chỉ đề cập đến các khái niệm: Nhạc lễ cung đình, âm nhạc cung đình, các bộ phận âm nhạc và múa liên quan đến nhạc lễ trong tế Đàn Xã Tắc và nguồn gốc, xuất xứ sự ra đời của đàn tế này. Âm nhạc cung đình: Bao gồm tất cả các loại hình âm nhạc phục vụ cho nghi thức, lễ lạt, triều nghi và các sinh hoạt trong hoàng cung như: Nhạc lễ cung đình, Tuồng cung đình, Múa cung đình, Ca Huế. Nhạc lễ : Là các bộ phận âm nhạc phục vụ cho các cuộc lễ từ nhỏ đến lớn trong cung đình và ngoài dân gian.
Nhạc lễ cung đình : Là loại hình âm nhạc nghi lễ gồm các bộ phận âm nhạc và múa nghi thức phục vụ cho các cuộc lễ lạt, triều nghi của cung đình với các trình thức, qui mô và niêm luật chặt chẽ do Bộ Lễ qui định. Nhạc lễ trong tế đàn Xã Tắc: là loại hình âm nhạc nghi lễ gồm các bộ phận âm nhạc (Nhã nhạc, Nhạc huyền, Đại nhạc, Tiểu nhạc, Bát âm, nhóm Ty Chung, Ty Khánh, Ty Cổ và múa Bát dật văn, Bát dật võ), và hệ thống bài bản (đã trình bày ở chương 3) được triều đình qui định thành điển chế và có điều chỉnh qua từng thời kỳ dưới triều các vua Nguyễn ở Huế. Tế : Là cúng dâng lễ vật theo nghi lễ trọng thể, thường có đọc sớ và Chiêng, Trống đi kèm. Tế đàn : Đàn lập giữa trời để tế ; Đàn tế.
Xã Tắc: Xã (thần đất, còn gọi là thần Hậu thổ), Tắc (thần ngũ cốc, còn 15 gọi là thần Lúa); ngoài ra, Xã Tắc còn được hiểu là giang sơn xã tắc để chỉ đất nước và những gì thuộc về chủ quyền của một quốc gia. Đàn Xã Tắc: Là nơi vua cho đắp đàn bằng nguồn đất sạch của cả nước, tượng trưng cho sự thống nhất giang sơn, dùng để tế thần Xã và thần Tắc một năm hai lần vào mùa Xuân và mùa Thu cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, muôn dân trăm họ được ấm no, hạnh phúc. Trong phạm vi nghiên cứu, luận án chỉ đề cập đến lễ tế Xã Tắc trong cung đình dưới thời các vua Nguyễn, và để làm rõ hơn nguồn gốc, xuất xứ của nhạc lễ cung đình và nhạc lễ trong tế đàn Xã Tắc, chúng tôi xin tiếp cận dưới góc nhìn lịch đại để thấy rõ sự ảnh hưởng và tiếp thu có chọn lọc cùng những sáng tạo tài tình của tiền nhân trong loại hình nhạc lễ cung đình Việt Nam.Nhạc lễ theo điển sử Trung Quốc Nhã nhạc (nhạc lễ) là một thuật ngữ chỉ loại hình âm nhạc dùng trong cung đình một số nước phong kiến phương Đông như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật bản và Việt Nam. Theo tự điển Hán - Việt của Thiều Chửu và Trần Văn Chính, (“Nhã”, có nghĩa chung là thanh cao, đẹp đẽ, còn có nghĩa khác là chính đáng, có phép tắc, có mẫu mực, đối nghĩa với “Tục”; còn “Nhạc” là âm nhạc) [27].
Khái niệm Nhã nhạc theo từ điển Từ Hải nêu lên như sau: “Nhã nhạc được gọi trái nghĩa với tục nhạc. Nhã nhạc là nhạc và múa mà các vị đế vương Trung Quốc thời xưa dùng trong lúc cúng tế trời đất, tổ tiên và trong các dịp lễ vui mừng của triều đình cùng các cuộc yến tiệc”1 [Từ Hải, Thượng Hải, 1989, dẫn theo tài liệu “các đàn tế ở Huế” của NNC Phan Thuận An]. Như vậy, Nhã nhạc ở Trung Quốc được hiểu là âm nhạc cung đình nói chung, đối nghịch với tục nhạc (tức âm nhạc dân gian). 1 Phiên âm chữ Hán: “Nhã nhạc: Tục nhạc đich đối xưng.
Trung Quốc cổ đại đế vương tế tự thiên địa, tổ tiên cập triều hạ, yến hưởng thời sở dụng đích nhạc vũ”. 16 Để tìm hiểu sâu hơn về sự hình thành và phát triển của lịch sử Nhã nhạc (nhạc lễ) Trung Quốc, chúng tôi xin điểm qua một số dấu mốc quan trọng sau: Các nhạc cụ trống, khánh đá, ống địch làm bằng xương thú được người Trung Quốc sử dụng ngay từ thời tiền sử và lần lượt được bổ sung thêm ở các triều đại kế tiếp như: Thời nhà Hạ (1800- 1500 Tr. CN) người Trung Quốc sử dụng thêm nhạc cụ Huân bằng đất nung và Chuông gốm. Thời nhà Thương (1450 – 1050 Tr.
CN), âm nhạc thường đi kèm vũ điệu. Vũ nhạc đời nhà Thương gắn liền với vu thuật được dùng trong lễ dâng hiến cho quỉ thần, là phương tiện để giao tiếp với thế giới thần linh. Nhạc cụ nhà Thương cũng phát triển vượt trội so với các thời đại trước. Khánh đá, Chuông đồng đã được sử dụng.
đặc biệt họ đã chế ra loại Chuông đồng phát ra hai cao độ khác nhau theo mẫu hình quả trám, người Trung Quốc gọi là hình ngói ghép [115]. Nhà Chu (Thế kỷ XI – 256 Tr. CN) đã kế thừa thành tựu âm nhạc nhà Thương đồng thời thực hiện nhiều cải cách lớn về văn hóa, kỹ thuật để xây dựng một quốc gia rộng lớn với chế độ chính trị mới mẻ. Để duy trì trật tự xã hội theo chế độ, nhà Chu đã đặt ra lễ nhạc, trong đó, lễ là những nghi thức về tế tự, triều hưởng và nhạc là hệ thống vũ nhạc đi kèm các nghi lễ đó.
Sách Âm nhạc Trung Quốc do Kiều Kiến Trung (Chủ biên) cho biết “Thời đại nhà Chu là thời đại đưa ra qui định sớm nhất đối với “Lễ” (các nghi thức tế tự, triều hưởng) và “Nhạc” (vũ nhạc tiến hành theo với “Lễ”), đấy chính là chế định ra lễ nhạc”), [120]. Sách Âm nhạc Trung Quốc còn cho biết thêm: “Chế độ lễ nhạc đã ảnh hưởng tác động tới mấy nghìn năm sau, mãi tới đời nhà Thanh mới kết thúc. Nội dung cụ thể của mỗi thời đại không giống nhau, nhưng về lý luận lại nhất loạt lấy nhà Chu làm mẫu mực” [120 – tr 20]. Như vậy, nhà Chu lập ra Nhã nhạc (nhạc lễ) để chứng tỏ quyền lực của mình ở nhiều đẳng 17 cấp khác nhau, nhằm duy trì trật tự xã hội và quyền lực cao nhất thuộc về Thiên tử.
Thời nhà Tần khái niệm Nhã nhạc là âm nhạc nghi lễ cung đình, tách hẳn ra với loại hình âm nhạc giải trí trong cung đình vốn có nguồn gốc từ âm nhạc dân gian. Thời nhà Đường (618- 907), âm nhạc cung đình có nhiều loại hình phong phú, đa dạng thì Nhã nhạc vẫn được duy trì và xây dựng với qui mô lớn. Thời nhà Tống bao gồm các loại hình: Nhã nhạc, Tục nhạc, Hồ nhạc… như vậy, khái niệm và nội dung của Nhã nhạc qua các thời kỳ này là âm nhạc nghi lễ, tồn tại bên cạnh các loại hình âm nhạc giải trí trong cung đình. Từ điển Từ Nguyên nêu định nghĩa: “Nhã nhạc là nhạc chính đáng, ngày xưa dùng trong các dịp lễ tế Giao, tế Miếu và các dịp triều hội…” [dẫn theo tài liệu “Các đàn tế ở Huế” của NNC Phan Thuận An].
Từ điển Từ Hải còn giải thích thêm rằng: Thời nhà Chu dùng Nhã nhạc để múa Lục vũ ở tông miếu, các nhà Nho cho rằng âm nhạc ấy là “trung chính, hòa bình”, lời ca ấy là “điển nhã, thuần chính”, rồi tôn Lục vũ lên làm khuôn phép của Nhã nhạc… [Từ Hải, Thượng Hải xuất bản, 1989, “Theo tài liệu đã dẫn” của NNC Phan Thuận An]. Như vậy, khái niệm Nhã nhạc Trung Quốc được hiểu theo hai nghĩa sau: -Nghĩa rộng: bao gồm tất cả các loại nhạc có trong cung đình -Nghĩa hẹp: Là loại hình âm nhạc nghi lễ, có ý nghĩa như là quốc nhạc, thể hiện vai trò chính trị của triều đình. Vừa mang tính nghi lễ, vừa mang tính chính trị, vừa có ảnh hưởng sang các nước có mối quan hệ gần gũi với Nhã nhạc Trung Quốc như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam. Nhạc lễ theo sử liệu Việt Nam Ở Việt Nam, dưới thời Lê Sơ, theo các tài liệu sử ghi lại thì trong công cuộc xây dựng chính qui hóa nền âm nhạc cung đình Việt Nam, âm nhạc thời vua Lê Thánh Tông (1460 – 1497) đã có sự sắp xếp lại thành hai bộ phận: đó là thự (bộ) Đồng văn và thự Nhã nhạc, do quan Thái thường cai quản.
Về hai bộ nhạc lễ này, nhà sử học Phạm Đình Hổ trong cuốn Vũ Trung tùy bút [56] cho rằng: Đồng văn chuyên về tấu nhạc (nhạc đàn), còn Nhã nhạc chuyên về thanh nhạc (nhạc hát). Nhưng theo một số tài liệu của các nhà nghiên cứu âm nhạc sau này thì: “… Nhã nhạc chỉ là một bộ phận nằm trong dàn nhạc lớn” ( Nguyễn Chí Vũ - Tìm hiểu một số hình thức tổ chức âm nhạc cổ truyền Việt Nam -Tạp chí nghiên cứu VHNT), hoặc: “… Nhã nhạc không còn là một dàn đồng ca hay hợp xướng như hiểu theo lúc ban đầu, (…) các bộ Đồng văn, Nhã nhạc và bộ Đại nhạc đã kết hợp thành dàn nhạc lớn của cung đình trong các đại lễ…” (Nguyễn Viêm - Lịch sử âm nhạc dân gian cổ truyền Việt Nam - Viện Nghiên cứu âm nhạc). Theo Luận án “Âm nhạc truyền thống Việt Nam” [65], của Trần Văn Khê cũng cho rằng: Nhã nhạc dùng để tấu nhạc chứ không có chức năng ca hát. Trong quá trình phát triển của lịch sử âm nhạc cung đình, đặc biệt là lịch sử phát triển dàn nhạc thì hình như mọi tổ chức dàn nhạc cung đình Huế đã không còn giữ nguyên chức năng và nghi thức trình tấu như qui định ban đầu mà chúng phối hợp diễn tấu với nhau theo từng nội dung nghi lễ, nghi thức hết sức đa dạng, cầu kỳ của triều đình và rất có thể đã hình thành thêm những tổ chức dàn nhạc mới, các thể loại âm nhạc mới.