Khóa luận tốt nghiệp Y tế: Nguyễn thị thu hà mô tả một số yếu tố ảnh hưởng

Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng hành vi bán kháng sinh không đơn tại nhà thuốc. Khóa luận dược sĩ Nguyễn Thị Thu Hà năm 2018 tại Hà Nội.

Chuyên ngành

Dược sĩ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

62
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về hành vi bán kháng sinh không có đơn

Khóa luận của Nguyễn Thị Thu Hà tập trung vào mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh không có đơn tại các cơ sở bán lẻ thuốc. Đây là một vấn đề y tế công cộng quan trọng ở Việt Nam, nơi kháng kháng sinh đang trở thành thách thức lớn. Nghiên cứu định tính này được thực hiện dưới hướng dẫn của ThS. Nguyễn Thị Phương Thúy tại Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dược, Trường Đại học Dược Hà Nội. Mục tiêu chính là khám phá những lý do tại sao người bán thuốc vẫn tiếp tục bán kháng sinh mà không có đơn kê đơn từ bác sĩ, góp phần làm trầm trọng thêm tình trạng lạm dụng kháng sinh hiện nay.

1.1. Bối cảnh và tầm quan trọng của đề tài

Việt Nam hiện đứng trong số những nước có tỷ lệ lạm dụng kháng sinh cao nhất. Bán kháng sinh không đơn là một trong những nguyên nhân chính góp phần vào tình trạng này. Các cơ sở bán lẻ thuốc đóng vai trò then chốt trong việc kiểm soát việc sử dụng kháng sinh, nhưng thực tế cho thấy quy định về bán thuốc kháng sinh chưa được thực hiện hiệu quả. Nghiên cứu này được WHO hỗ trợ tài chính một phần, nhằm cung cấp dữ liệu để xây dựng chiến lược kiểm soát kháng kháng sinh tại Việt Nam.

1.2. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Khóa luận khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định bán kháng sinh không có đơn của dược sĩ và người bán thuốc tại các nhà thuốc. Nghiên cứu được tiến hành tại Hà Nội và Thanh Hóa, bao gồm phỏng vấn sâu với cán bộ quản lý, dược sĩ và nhân viên bán thuốc. Phương pháp định tính được sử dụng để thu thập và phân tích dữ liệu, giúp hiểu sâu hơn về động lực và áp lực thực tế ảnh hưởng đến hành vi bán thuốc.

II. Mô hình lý thuyết hành vi có dự định Theory of Planned Behaviour TPB

Mô hình hành vi có dự định (TPB) là keơ sở lý thuyết chính được Nguyễn Thị Thu Hà áp dụng trong nghiên cứu. Mô hình này giải thích cách thức ba yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định và hành vi của con người: thái độ, chuẩn chủ quan, và nhận thức kiểm soát hành vi. Trong bối cảnh bán kháng sinh, mô hình TPB giúp phân tích tại sao người bán thuốc quyết định bán thuốc kháng sinh không tuân thủ quy định. Lý thuyết này đã được ứng dụng thành công trong nhiều nghiên cứu quốc tế về hành vi bán kháng sinh không đơn ở Thái Lan, Ai Cập và các nước khác.

2.1. Các thành phần chính của mô hình TPB

Thái độ (Attitude) đề cập đến nhận thức của người bán thuốc về lợi ích hay hại của việc bán kháng sinh không đơn. Chuẩn chủ quan (Subjective norm) là áp lực từ gia đình, đồng nghiệp và khách hàng. Nhận thức kiểm soát (Perceived behavioral control) là khả năng thực hiện hành vi này. Ba yếu tố này cùng tác động để tạo nên ý định hành vi, từ đó dẫn đến hành động bán kháng sinh không có đơn.

2.2. Ứng dụng mô hình TPB trong nghiên cứu

Trong khóa luận, Nguyễn Thị Thu Hà sử dụng mô hình TPB để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh của người bán thuốc tại các cơ sở bán lẻ. Phương pháp định tính giúp khám phá sâu hơn các lý do không rõ ràng, những áp lực từ khách hàng, tình trạng tài chính của nhà thuốc, và hiểu biết về quy định hiện hành.

III. Phương pháp nghiên cứu định tính của Nguyễn Thị Thu Hà

Khóa luận sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh không đơn. Thiết kế nghiên cứu bao gồm phỏng vấn sâu (in-depth interview) với người bán thuốc, dược sĩ, và cán bộ quản lý tại các cơ sở bán lẻ thuốc ở Hà Nội và Thanh Hóa. Dữ liệu được thu thập, ghi âm, phiên âm và phân tích theo phương pháp phân tích nội dung. Cách tiếp cận này cho phép hiểu sâu về động lực thực tế, những thách thức, và áp lực mà người bán thuốc đối mặt hàng ngày.

3.1. Thiết kế và đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu được thiết kế dựa trên mô hình TPB và sử dụng phương pháp định tính thông qua phỏng vấn sâu. Đối tượng bao gồm dược sĩ, người bán thuốc, và cán bộ quản lý từ các nhà thuốc tư nhân và nhà thuốc bệnh viện. Cỡ mẫu được xác định theo nguyên tắc bão hòa dữ liệu, tức là tiếp tục phỏng vấn cho đến khi không thu được thông tin mới.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn sâu có hướng dẫn, được ghi âm và phiên âm chi tiết. Quá trình phân tích định tính tuân theo quy trình nhiều bước: mã hóa dữ liệu, xác định chủ đề, phân loại theo các thành phần của mô hình TPB. Phương pháp này cho phép mô tả chi tiết các yếu tố ảnh hưởng mà không thể đo lường bằng số liệu định lượng.

IV. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn

Khóa luận của Nguyễn Thị Thu Hà đã xác định được những yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh không đơn của người bán thuốc. Các yếu tố này bao gồm áp lực kinh tế từ việc tăng doanh thu, áp lực từ khách hàng yêu cầu bán thuốc không cần đơn, chuẩn chủ quan từ đồng nghiệp, và khả năng kiểm soát hành vi bị hạn chế. Những phát hiện này cung cấp cơ sở quan trọng để các nhà hoạch định chính sách y tế công cộng tại Bộ Y tế xây dựng các can thiệp hiệu quả nhằm giảm lạm dụng kháng sinh.

4.1. Các yếu tố ảnh hưởng theo mô hình TPB

Nghiên cứu phát hiện thái độ của người bán thuốc về lợi nhuận và sự thuận tiện đóng vai trò quan trọng. Chuẩn chủ quan từ khách hàng yêu cầu và từ các nhà thuốc khác cạnh tranh cũng tác động mạnh. Nhận thức kiểm soát hành vi bị giới hạn do thiếu giáo dục, áp lực kinh tế, và sự giám sát không nhất quán từ cơ quan quản lý.

4.2. Kiến nghị và hướng phát triển tiếp theo

Khóa luận đề xuất cần tăng cường quản lý tại cơ sở bán lẻ thuốc, nâng cao nhận thức cho người bán thuốc về hậu quả của kháng kháng sinh, và cải thiện quy định về bán kháng sinh. Hướng nghiên cứu tiếp theo nên bao gồm can thiệp để thay đổi hành vi người bán thuốc và đánh giá hiệu quả của các biện pháp này.

21/12/2025
Nguyễn thị thu hà mô tả một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi bán kháng sinh không có đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc nghiên cứu định tính khóa luận tốt nghiệp dược sĩ hà nội 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1.1 Quy định bán kháng sinh tại cơ sở bán lẻ thuốc Đa số quốc gia trên thế giới, luật quy định kháng sinh chỉ có thể mua được khi có đơn thích hợp [33]. Ở Anh, có một sự thay đổi về quy định đối với một số kháng sinh để điều trị cho những nhiễm trùng nhẹ, chuyển từ thuốc được bán khi có đơn (prescription only medicine) sang thuốc cho phép dược sĩ được bán ở hiệu thuốc (pharmacy medicine) [26].Do đó một số kháng sinh này có thể có được theo lời khuyên của dược sĩ. Ví dụ như kháng sinh Azithromycin để điều trị Chlamydia gây nhiễm trùng đường sinh dục, có thể được các dược sĩ tự chỉ định ở các nhà thuốc khắp nước Anh mà không cần có đơn của bác sĩ [36]. Ở Indonesia, luật Dược nghiêm cấm bán phần lớn các loại kháng sinh mà không có đơn.

Chỉ một số kháng sinh cụ thể dùng để điều trị tại chỗ như là kem tetracyclin hay thuốc nhỏ mắt chloramphenicol, có thể mua được theo lời khuyên của dược sĩ, không bắt buộc cần có đơn thuốc [33]. Trong khi đó ở một số quốc gia khác như ở Thái Lan, dược sĩ có chứng chỉ hành nghề được bán một số kháng sinh mà không cần đơn của bác sĩ, chỉ một số ít kháng sinh như ức chế betalactamase, carbapenem and fosfomycin, không được bán ở nhà thuốc và chỉ được sử dụng trong bệnh viện [31]. Tại Việt Nam, kháng sinh là loại thuốc kê đơn. Các thuốc kê đơn khi cấp phát, bán lẻ và sử dụng phải có đơn thuốc, nếu sử dụng không theo đúng chỉ định của người kê đơn thì có thể nguy hiểm tới tính mạng, sức khỏe [8].Việc bán lẻ thuốc kê đơn mà không có đơn là một trong 16 hành vi bị nghiêm cấm được quy định trong luật Dược năm 2016.

Nếu vi phạm quy định này sẽ bị “Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 200.000 đồng đối với hành vi bản lẻ các loại thuốc phải kê đơn mà không có đơn của bác sĩ” [3]. Nhằm kiểm soát hoạt động cung cấp thuốc kháng sinh tại các cơ sở bán lẻ thuốc, từ năm 2016Bộ Y Tế đã có quy định phải lưu đơn thuốc có kê thuốc kháng sinh tại cơ sở bán lẻ thuốc trong thời gian 01 (một) năm, kể từ ngày kê đơn [2].2 Thực trạng bán thuốc kháng sinh không đơn Trên thế giới, theo một con số ước tính rằng hơn 50% kháng sinh được bán trong khi không có đơn của bác sĩ [14], mặc dù bán kháng sinh không đơn là bất hợp pháp ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Hiện tượng này không chỉ phổ biến ở các quốc gia đang phát triển mà còn phổ biến ở các quốc gia phát triển. Các nghiên cứu ở các quốc gia Châu Âu và Nam Mỹ bao gồm Tây Ban Nha, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Mexio, và Brazil đều cho thấy có hiện tượng này [11],[25],[30],[35].

Theo kết quả nghiên cứu ở Indonesia, sử dụng phương pháp đóng vai khách hàng ở 75 nhà thuốc, 10 quầy thuốc và 39 kios, cho thấy 76% trong số 104 lượt mua bán kháng sinh được thực hiện khi không có đơn [34]. Kết quả cho thấy tương tự như ở Ả rập xê út, 78% trong tổng số 327 nhà thuốc bán kháng sinh không có đơn [19]. Theo một nghiên cứu quan sát về việc bán lẻ thuốc kháng sinh ở khu vực thành thị và nông thôn ở miền Bắc Việt Nam (2010), cho thấy: Trong tổng số 2953 lượt giao dịch bán thuốc (2083 đô thị và 870 nông thôn) đã được quan sát hầu hết các kháng sinh đều được bán mà không có đơn của bác sĩ: 88% ở thành thị và 91% ở các hiệu thuốc nông thôn [24].3 Kết quả một số nghiên cứu về lý do bán kháng sinh không có đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc Trên thế giới và Việt Nam đã có một số nghiên cứu được tiến hành để tìm hiểu lý do bán kháng sinh không đơn của người bán thuốc. Các nghiên cứu này đã chỉ ra một số lý do thúc đẩy dược sĩ bán kháng sinh không đơn như là: nhu cầu của người bệnh, lợi nhuận, thực hành của những người dược sĩ khác, giám sát của cơ quan quản lýhay thiếu nhận thức về sử dụng kháng sinh hợp lý và đề kháng kháng sinh.

Các nghiên cứu được tiến hành tìm hiểu lý do bán kháng sinh không đơn tại các quốc gia chủ yếu là các nghiên cứu định tính hoặc nghiên cứu kết hợp (Phụ lục 4). Tìm hiểu các lý do dẫn đến việc bán kháng sinh không có đơn tại cơ sở bán lẻ thuốc được khá nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu định tính được thực hiện và công bố đều tiếp cận dưới hình thức phỏng vấn sâu, cho kết quả như sau: 3 Bảng 1.1 Tổng hợp một số lý do bán KSKĐ từ các nghiên cứu định tính Tác giả, năm Quốc PP thu Cỡ Kết quả nghiên cứu xuất bản gia thập mẫu Gebremedhin Ethiopia Phỏng 5 +Nhu cầu khách hàng. Beedemariam vấn sâu NBT +Kỳ vọng của người chủ (2016) [18] +Xung đột lợi ích của người bán thuốc +Cơ chế quản lý yếu kém Anas M. Sudan Phỏng 30 +Người bệnh không có khả năng chi trả phí Salima (2016) vấn sâu NBT tư vấn của bác sĩ [29] +Lợi ích thương mại của dược sĩ.

+Thiếu sự giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý. +Nhầm lẫn về vai trò chuyên môn. +Thiếu sự quan tâm đối với việc tư vấn cho bệnh nhân Maryam Kotb Ai Cập Phỏng 25 +Nhu cầu khách hàng (2018) [21] vấn sâu NBT +Kỳ vọng của người chủ +Cơ chế quản lý yếu kém Anna K Ấn Độ Phỏng 24 +Thiếu đào tạo về chuyên môn Barker (2017) vấn sâu NBT +Khó khăn trong việc tiếp cận cơ sở y tế [13] +Thiếu hiểu biết về kháng sinh và đề kháng kháng sinh. 4  Nhu cầu người bệnh Bán kháng sinh không đơn giúp cho những bệnh nhân nghèo không có khả năng chi trả phí thăm khám Các dược sĩ ở Sudan và Ả rập xê út cho rằng, lý do chính mà họ cung cấp kháng sinh không đơn cho khách hàng bởi vì họ cảm thấy cảm thông với những bệnh nhân nghèo, những người không có khả năng để chi trả phí tư vấn [19],[29].

Vì vậy, người dược sĩ không có sự lựa chọn nào khác là điều trị cho họ [29]. Bán kháng sinh không đơn đáp ứng nhu cầu của khách hàng Dược sĩ có mong muốn làm hài lòng khách hàng. Bởi vì khách hàng đem lại lợi ích cho công việc kinh doanh của họ [24]. Cả ở Ethiopia, Ai Cập và Việt Nam, nhu cầu của khách hàng là một trong những lý do chính ảnh hưởng lên hành vi bán KSKĐ của họ.

NBT cho biết người bệnh thường không đi khám vì: thời gian chờ đợi dài ở các cơ sở khám chữa bệnh, chi phí khám đắt đỏ, kinh nghiệm sử dụng kháng sinh điều trị khỏi trước đó. NBT từ chối không bán và khuyên khách hàng đi khám bác sĩ, thì họ không sẵn sàng làm việc đó [24],[18],[21]. Ở Ả rập xê út cũng cho thấy NBT bị ảnh hưởng lớn từ nhu cầu của KH, lý do chính dược sĩ bán kháng sinh không đơn bởi vì người bệnh không sẵn sàng đi khám, trừ khi bị bệnh nặng [19].  Lợi ích tài chính Bán kháng sinh không đơn giúp tăng doanh thu cho nhà thuốc Theo kết quả nghiên cứuở Việt Nam cho biết, bán kháng sinh đóng góp đáng kể vào doanh thu một ngày của nhà thuốc: 24% đối với khu vực thành thị và 18% đối với khu vực nông thôn.

NBT cho biết, bán kháng sinh không lãi bằng các thuốc phổ biến khác như là vitamin hay thực phẩm chức năng. Tuy nhiên, nếu DS tuân thủ theo quy định thì chắc chắn thu nhập của nhà thuốc bị ảnh hưởng [24]. Lợi ích thương mại của dược sĩ Kết quả nghiên cứu ở Sudan chỉ ra rằng, lợi ích thương mai của dược sĩ đóng một vai trò quan trọng đằng sau việc bán kháng sinh không có đơn. Một số dược sĩ, đặc biệt là người chủ luôn tìm cách để tăng doanh thu cho nhà thuốc, bất chấp việc thực hành là không đúng quy định [29].

Ở Ethiopia, NBT cho biết kỳ vọng của người chủ là một trong những lý do làm gia tăng việc bán kháng sinh không đơn. 5 Chính vì vậy, NBT luôn có xu hướng thu hút nhiều khách hàng nhiều nhất có thể để tối đa hóa lợi nhuận và duy trì chỗ đứng trong nhà thuốc. Tương tự như ở Alexandria Ai Cập, 100% dược sĩ tham gia phỏng vấn đều đồng ý rằng, ảnh hưởng của người chủ là lý do chính họ bán kháng sinh không có đơn. Người chủ không cho phép họ không cung cấp KS khi không có đơn cho khách hàng [21].

 Thực hành của người dược sĩ khác Lý do lớn nhất các dược sĩ ở Saudi bán kháng sinh không đơn cho khách hàng bởi vì nếu họ không bán, thì dược sĩ ở cửa hàng dược phẩm khác cũng bán[10]. Nhiều nghiên cứu khác ở trên thế giới chỉ ra rằng, lý do NBT không từ chối bán KSKĐ cho khách hàng bởi vì khách hàng sẽ dễ dàng mua được kháng sinh ở một cửa hàng dược phẩm khác [24],[18], [20].  Thiếu giám sát của cơ quan quản lý Các dược sĩ ở Ethiopia, Sudan, Ai Cập đều thừa nhận rằng, cơ chế quản lý yếu kém, thiếu sự thanh tra kiểm tra của cơ quan quản lý như là một trong những lý do thúc đẩy cho hành vi bán kháng sinh mà không có đơn [18],[21],[29].  Thiếu kiến thức về kháng sinh và đề kháng kháng sinh Theo kết quả nghiên cứu ở Haryana, Ấn Độ cho biết, 2/3 NBT chưa từng nghe về kháng kháng sinh và chỉ có 1/6 số NBT định nghĩa đúng về kháng sinh.

50% số NBT nghĩ rằng kháng sinh được sử dụng để điều trị cảm lạnh, 80% số NBT nghĩ rằng KS để điều trị nhiễm virus và 66,7% điều trị ho và 70,8% đề điều trị viêm họng [13]. Trong nghiên cứu ở Việt Nam, kết quả cho thấy người bán thuốc ở khu vực nông thôn có hiểu biết còn hạn chế về đề kháng kháng sinh. Họ cho rằng kháng thuốc chỉ xảy ra với những ai lạm dụng nó, nếu họ không lạm dụng thì không có gì phải lo lắng cả [24].  Thiếu nhận thức về quy định bán kháng sinh phải có đơn 2/3 dược sĩ tham gia nghiên cứu ở Ả rập xê út không nhận thức được rằng bán KSKĐ là bất hợp pháp [19].

Người bán thuốc ở khu vực nông thôn ở Việt Nam cho thấy họ có sự nhầm lẫn về quy định liên quan đến bán kháng sinh, họ cho rằng một số kháng sinh nhẹ như amoxicillin và ampicillin có thể bán trong khi không có đơn của bác sĩ [24].4 Mô hình hành vi có dự d định (Theory of Planned Behaviour Behaviour-TPB) 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ