Tài liệu Y tế: Nguyễn thị hằng phân tích sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái

Nghiên cứu phân tích sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường typ 2 ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Thanh Liêm, Hà Nam của Dược sĩ Nguyễn Thị Hằng.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2018

83
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Nghiên cứu Nguyễn Thị Hằng

Luận văn của Nguyễn Thị Hằng từ Trường Đại học Dược Hà Nội năm 2018 tập trung vào phân tích sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường type 2 trên bệnh nhân ngoại trú. Nghiên cứu này được thực hiện tại Trung tâm Y tế Huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Đào Thị Vui. Mục tiêu chính là đánh giá hiệu quả điều trị và tính hợp lý trong lựa chọn phác đồ thuốc cho bệnh nhân đái tháo đường. Luận văn này cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng sử dụng thuốc trong điều trị bệnh mạn tính tại các cơ sở y tế cơ sở, giúp cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân.

1.1. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô tả, phân tích cắt ngang trên mẫu bệnh nhân đái tháo đường type 2 điều trị ngoại trú. Tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm bệnh nhân được chẩn đoán xác định, có hồ sơ y tế đầy đủ. Thời gian thực hiện từ tháng 7 đến tháng 11 năm 2018. Các nội dung nghiên cứu bao gồm đặc điểm chung bệnh nhân, tình hình sử dụng thuốc, các phác đồ điều trị, và đánh giá hiệu quả dựa trên kiểm soát glucose, HbA1C, huyết áp và lipid máu.

1.2. Ý nghĩa của luận văn

Luận văn có ý nghĩa thực tiễn cao trong việc cung cấp dữ liệu về tính hợp lý của sử dụng thuốc trong điều trị đái tháo đường type 2. Nghiên cứu giúp nhận diện những lỗi thường gặp trong lựa chọn phác đồ điều trị, đặc biệt ở bệnh nhân suy giảm chức năng thận hoặc béo phì. Kết quả nghiên cứu hỗ trợ các nhân viên y tế trong tối ưu hóa phương pháp điều trị và nâng cao hiệu quả chăm sóc bệnh nhân đái tháo đường tại cơ sở.

II. Phân tích Sử dụng Thuốc Điều trị Đái tháo đường Type 2

Phân tích sử dụng thuốc trong luận văn Nguyễn Thị Hằng bao gồm danh mục các nhóm thuốc chính như ức chế α-glucosidase, nhóm incretin, sulfonylurea và insulin. Nghiên cứu khảo sát thực trạng lựa chọn thuốc trên các nhóm bệnh nhân khác nhau, từ bệnh nhân mới chẩn đoán đến những trường hợp cần điều chỉnh phác đồ. Việc phân tích các phác đồ điều trị được áp dụng tại thời điểm khác nhau cho phép đánh giá tính chất thích hợp của các lựa chọn điều trị. Công trình này cũng chú trọng đến sử dụng thuốc điều trị bệnh mắc kèm như tăng huyết áp, rối loạn lipid máu để đảm bảo kiểm soát toàn diện tình trạng sức khỏe bệnh nhân.

2.1. Các nhóm thuốc chính được sử dụng

Luận văn tập trung vào phân tích chi tiết các nhóm thuốc bao gồm ức chế α-glucosidase giúp giảm hấp thu glucose, nhóm incretin có tác dụng kích thích tiết insulin theo nhu cầu, sulfonylurea kích thích tuỵ tiết insulin, và insulin cho các trường hợp chỉ định cần thiết. Mỗi nhóm thuốc được đánh giá về hiệu quả, tác dụng không mong muốn, và tính phù hợp với đặc điểm từng bệnh nhân.

2.2. Phác đồ điều trị và thay đổi trong quá trình theo dõi

Nghiên cứu ghi nhận các phác đồ điều trị được sử dụng và những thay đổi phác đồ tại các thời điểm khác nhau của quá trình điều trị. Các lý do thay đổi phác đồ được phân tích để đánh giá tính hợp lý của việc điều chỉnh liều lượng hay thay đổi thuốc. Dữ liệu này giúp xác định những điểm cần cải thiện trong quản lý bệnh nhân đái tháo đường tại cơ sở y tế.

III. Đánh giá Hiệu quả Điều trị và Kiểm soát Bệnh

Đánh giá hiệu quả điều trị trong luận văn của Nguyễn Thị Hằng dựa trên nhiều chỉ tiêu khác nhau. Mục tiêu chính bao gồm kiểm soát glucose huyết thông qua đo glucose máu lúc đói (FPG)HbA1C phản ánh kiểm soát glucose trung bình 3 tháng. Ngoài ra, kiểm soát huyết áplipid máu cũng được đánh giá do tầm quan trọng của chúng trong phòng ngừa biến chứng tim mạch. Chỉ số BMI (chỉ số khối cơ thể) được theo dõi để đánh giá tình trạng cân nặng bệnh nhân. Chức năng thận cũng được đánh giá thông qua eGFR để phát hiện suy thận - một biến chứng hay gặp ở bệnh nhân đái tháo đường, từ đó lựa chọn thuốc thích hợp.

3.1. Kiểm soát các chỉ tiêu chuyển hóa

Kiểm soát glucose huyết là tiêu chí chính với mục tiêu FPG 100-140 mg/dL và HbA1C <7%. Kiểm soát lipid máu nhằm giảm nguy cơ bệnh tim mạch bằng cách duy trì HDL-C cao, triglyceride và LDL-C thấp. Kiểm soát huyết áp được thiết lập với mục tiêu <130/80 mmHg. Những chỉ tiêu này giúp đánh giá toàn diện hiệu quả của phác đồ điều trị được áp dụng.

3.2. Biến chứng và các biến cố bất lợi

Luận văn ghi nhận các biến cố bất lợi xảy ra trong quá trình nghiên cứu bao gồm tác dụng không mong muốn của thuốc (ADR) và các biến chứng của bệnh đái tháo đường. Những dữ liệu này hỗ trợ trong đánh giá an toàn của các phác đồ điều trị và giúp xác định những điểm cần cải thiện trong quản lý bệnh nhân.

IV. Kết luận và Ứng dụng Thực tiễn

Luận văn Nguyễn Thị Hằng cung cấp một cái nhìn toàn diện về thực trạng sử dụng thuốc điều trị đái tháo đường type 2 tại cơ sở y tế. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu cải thiện trong việc lựa chọn phác đồ, đặc biệt ở các nhóm bệnh nhân đặc biệt như suy giảm chức năng thận hay béo phì. Công trình này nhấn mạnh tầm quan trọng của tối ưu hóa liệu pháp thuốc dựa trên đặc điểm từng bệnh nhân cụ thể. Các khuyến cơ từ luận văn giúp nâng cao chất lượng chăm sóc bệnh nhân, giảm tác dụng không mong muốn, và cải thiện tuân thủ điều trị. Nghiên cứu này đóng góp kiến thức quan trọng cho đội ngũ nhân viên y tế trong quản lý bệnh mạn tính hiệu quả.

4.1. Những phát hiện chính và khuyến nghị

Nghiên cứu nhận diện những lỗi thường gặp trong lựa chọn thuốc và đề xuất những khuyến nghị thực tiễn để cải thiện tính hợp lý của sử dụng thuốc. Các khuyến nghị bao gồm đánh giá kỹ lưỡng tình trạng thận, lựa chọn thuốc thích hợp cho từng nhóm bệnh nhân, và theo dõi định kỳ các chỉ tiêu kiểm soát bệnh. Những khuyến cơ này giúp tối ưu hóa kết quả điều trị.

4.2. Ứng dụng cho các cơ sở y tế

Luận văn của Nguyễn Thị Hằng cung cấp bằng chứng khoa học hỗ trợ phát triển hướng dẫn lâm sàngquy trình chuẩn hóa trong điều trị đái tháo đường type 2. Kết quả nghiên cứu có giá trị áp dụng cao cho các cơ sở y tế cơ sở trong việc nâng cao chất lượng dịch vụđạt mục tiêu kiểm soát bệnh hiệu quả hơn.

21/12/2025
Nguyễn thị hằng phân tích sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường tuýp 2 điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện thanh liêm tỉnh hà nam luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, cuộc sống con người luôn bận rộn với nhiều căng thẳng và chế độ sinh hoạt không hợp lý, ăn nhiều đường, nhiều chất béo, hút thuốc lá, uống rượu bia nhiều, ít vận động thể lực,… dẫn đến gia tăng nhiều bệnh mạn tính, đặc biệt là các bệnh tim mạch, đái tháo đường, tăng huyết áp. Đái tháo đường là một bệnh lý rối loạn chuyển hóa rất thường gặp do tăng glucose máu mạn tính. Đái tháo đường có tỷ lệ mắc cao ở cộng đồng và đang có xu hướng tăng nhanh, đặc biệt ở các nước đang phát triển. Bệnh có ảnh hưởng lớn đến kinh tế, xã hội và đang là vấn đề được tất cả các quốc gia trên thế giới quan tâm.

Trong các loại ĐTĐ thì ĐTĐ týp 2 chiếm khoảng 85 - 95 % tổng số người mắc bệnh. ĐTĐ týp 2 có tốc độ phát triển rất nhanh, tỷ lệ bệnh nhân ĐTĐ týp 2 cứ trong vòng 15 năm lại tăng lên gấp đôi [4]. Theo thống kê của Liên đoàn đái tháo đường Quốc tế (IDF) năm 2017 ước tính có khoảng 425 triệu người trên toàn cầu bị ĐTĐ chiếm 9,1%, trong đó 50% số bệnh nhân không được chẩn đoán ĐTĐ (212 triệu người). Dự đoán đến năm 2045 số người mắc bệnh sẽ là 629 triệu người (tăng 204 triệu).

Năm 2017 có khoảng 4 triệu người chết vì bệnh tiểu đường (năm 2014 khoảng 4,9 triệu người), khoảng 2/3 số người mắc tập trung ở khu vực thành thị (279 triệu người), 2/3 số người mắc bệnh nằm trong độ tuổi lao động [41]. Theo IDF, Việt Nam nằm trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương, là khu vực có số lượng người mắc ĐTĐ đông nhất trong các khu vực trên thế giới với 3,53 triệu bệnh nhân trong độ tuổi từ 20 – 79 và ước tính sẽ tăng lên 78,5% tức sẽ có 6,3 triệu người mắc bệnh vào năm 2045 [44]. Hiện nay trên thế giới vẫn chưa có loại thuốc nào điều trị khỏi hẳn bệnh mà chỉ làm giảm các triệu chứng, biến chứng tăng glucose máu. Vì vậy bệnh nhân ĐTĐ phải dùng thuốc suốt đời.

Hầu hết các bệnh nhân sau khi được chẩn đoán ĐTĐ được điều trị ngoại trú bằng thuốc kết hợp duy trì chế ăn uống luyện tập phù hợp để kiểm soát đường huyết. Trung tâm y tế huyện Thanh Liêm có nhiệm vụ khám, điều trị, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe ban đầu cho nhân dân trong huyện và bệnh nhân ở nơi khác đến. 1 Hiện nay phòng khám nội tiết thuộc khoa Khám bệnh của Trung tâm đang quản lý theo dõi và điều trị ngoại trú cho khoảng gần 1000 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 theo chương trình quản lý ĐTĐ quốc gia. Vấn đề đặt ra cho việc sử dụng thuốc điều trị bệnh ĐTĐ an toàn, hiệu quả, hợp lý và kinh tế luôn được quan tâm.

Xuất phát từ thực tiễn trên, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “ Phân tích sử dụng thuốc trên bệnh nhân đái tháo đường týp 2 điều trị ngoại trú tại trung tâm y tế huyện Thanh Liêm tỉnh Hà Nam ”. Với 3 mục tiêu: 1. Khảo sát các đặc điểm của bệnh nhân mắc đái tháo đường trong mẫu nghiên cứu 2. Phân tích tình hình sử dụng thuốc điều trị ĐTĐ typ 2 trên bệnh nhân ngoại trú 3.

Đánh giá hiệu quả điều trị sau 3 tháng và 6 tháng điều trị trên bệnh nhân ĐTĐ typ 2 điều trị ngoại trú tại Trung tâm Y tế huyện Thanh Liêm. BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG 1. Định nghĩa: Bệnh đái tháo đường là bệnh rối loạn chuyển hóa không đồng nhất, có đặc điểm tăng glucose huyết do khiếm khuyết về tiết insulin, về tác động của insulin, hoặc cả hai. Tăng glucose mạn tính trong thời gian dài gây nên những rối loạn chuyển hóa carbohydrate, protide, lipid, gây tổn thương ở nhiều cơ quan khác nhau, đặc biệt ở tim và mạch máu, thận, mắt, thần kinh [9].

Đặc điểm dịch tễ của bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là một bệnh mạn tính không lây nhiễm phổ biến trên toàn cầu. Trên toàn thế giới có 425 triệu người lớn (độ tuổi 20-79) tương đương 1 trong 11 người lớn đang sống với bệnh đái tháo đường trong năm 2015. Dự đoán vào năm 2045, con số này sẽ tăng tới khoảng 629 triệu người, hay nói cách khác 1 người trong 10 người lớn sẽ bị bệnh đái tháo đường [44]. ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong cao thứ ba tại Việt Nam (sau xơ vữa động mạch, ung thư) [35], tính riêng trong năm 2017 cả nước có gần 29.000 người trưởng thành tử vong do các nguyên nhân liên quan đến ĐTĐ.

Tuy nhiên, một điều đáng lưu ý là chỉ có 31,1% trong tổng số bệnh nhân được chẩn đoán, tức có đến 68,9% bệnh nhân không biết mình mắc ĐTĐ mà không nhận thức được hậu quả của bệnh gây ra [6]. Đây đều là những con số đáng kinh ngạc cho thấy ĐTĐ đã và đang trở thành một đại dịch, một vấn đề lớn của Y tế toàn cầu. Tất cả các quốc gia dù giàu hay nghèo đều đang phải chịu tác động không hề nhỏ của căn bệnh này và Việt Nam cũng không phải là một ngoại lệ. Phân loại Bệnh đái tháo đường được phân loại như sau [7]: - Đái tháo đường týp 1: Do tế bào β của tuyến tụy bị phá vỡ, thường dẫn đến thiếu hụt insulin tuyệt đối.

- Đái tháo đường týp 2: Do quá trình giảm tiết insulin trên nền tảng đề kháng với insulin. 3 - Các týp đặc hiệu khác: ĐTĐ do những nguyên nhân khác như khiếm khuyết về gen liên quan đến chức năng tế bào β hay tác động của insulin, bệnh tuyến tụy ngoại tiết (như xơ, nang tụy), do các bệnh nội tiết khác. - Đái tháo đường thai kỳ: là tình trạng rối loạn dung nạp glucose được phát hiện lần đầu tiên trong thai kỳ, không loại trừ trường hợp bệnh nhân đã mắc ĐTĐ trước khi có thai mà chưa được chẩn đoán hay bệnh nhân tiếp tục tăng đường huyết sau khi sinh. Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ týp 2 Cơ chế bệnh sinh của ĐTĐ týp 2 chủ yếu là do rối loạn bài tiết insulin và kháng insulin.

Hai quá trình này tương trợ lẫn nhau dẫn đến suy kiệt tế bào β đảo tụy. Thêm vào đó nếu tăng glucose huyết sẽ gây thêm sự bất thường về tác động bài tiết insulin [2]. Rối loạn tiết insulin Do tế bào β bị rối loạn về khả năng sản xuất insulin. Có thể là các nguyên nhân sau: - Sự tích tụ triglycerid và acid béo tự do trong máu dẫn đến sự tích tụ triglycerid trong tụy, là nguyên nhân gây ngộ độc lipid ở tụy.

- Sự tích lũy sợi fibrin giống amyloid trong tế bào β dẫn đến tổn thương và suy giảm chức năng tế bào β. - Tăng nhạy cảm tế bào β với chất ức chế trương lực α – andrenaric [22]. Đề kháng insulin • Đề kháng insulin Kháng insulin là hiện tượng giảm đáp ứng sinh học của insulin nội sinh hoặc ngoại sinh [45]. Tình trạng kháng insulin có thể được thấy ở hầu hết bệnh nhân bị ĐTĐ týp 2 [10].

Đối với ĐTĐ týp 2 béo thường có insulin huyết tăng, tuy nhiên tăng insulin huyết không tương ứng với mức độ giảm glucose huyết (điển hình trong nghiệm pháp tăng glucose huyết bằng đường uống). Điều đó chứng minh rằng kháng insulin đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xuất hiện tình trạng rối loạn dung nạp glucose và ĐTĐ týp 2 [21]. • Các yếu tố gây đề kháng insulin: + Yếu tố gen: người ta thấy các yếu tố liên quan giữa gen và ĐTĐ týp 2 như nếu 4 sinh đôi đơn hợp tử thì phù hợp trên 90%, bệnh có tính chất gia đình rõ rệt, tỷ lệ mắc ĐTĐ týp 2 khác nhau giữa các dân tộc. Nhiều nghiên cứu cho thấy nếu bố hoặc mẹ bị ĐTĐ thì con có nguy cơ ĐTĐ là 40%.

Nếu cả bố và mẹ bị ĐTĐ thì con có nguy cơ ĐTĐ là 70%. Tuy nhiên 15% người không có tiền sử gia đình bị mắc ĐTĐ [21]. + Ăn quá mức, ít hoạt động + Béo phì (BMI ≥25 kg/m2 với người Mỹ nói chung, ≥ 23 kg/m2 với người Mỹ gốc Á là một yếu tố nguy cơ). + Tăng huyết áp, tăng triglycerid máu, tăng acid uric máu, giảm HDL.

+ Hút thuốc lá + Thuốc gây ĐTĐ (glucocorticoid, lợi tiểu thiazid, thuốc chữa bệnh tâm thần [21], [31], [45]. Tiêu chuẩn chẩn đoán 1. Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường [9]. Theo "Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ĐTĐ typ 2 Bộ Y tế năm 2017 "Tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường dựa vào 1 trong 4 tiêu chuẩn sau: - Glucose huyết tương lúc đói (fasting plasma glucose : FPG) ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L).

Bệnh nhân phải nhịn ăn (không uống nước ngọt, có thể uống nước lọc, nước đun sôi để nguội) ít nhất 8 giờ (thường phải nhịn đói qua đêm từ 8 -14 giờ), hoặc: - Glucose huyết tương ở thời điểm sau 2 giờ làm nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống 75g (oral glucose tolerance test: OGTT) ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L). Nghiệm pháp dung nạp glucose đường uống phải được thực hiện theo hướng dẫn của Tổ chức Y tế thế giới: bệnh nhân nhịn đói từ nửa đêm trước khi làm nghiệm pháp, dùng một lượng glucose tương đương với 75g glucose, hòa tan trong 250-300 ml nước, uống trong 5 phút; trong 3 ngày trước đó bệnh nhân ăn khẩu phần có khoảng 150-200 gam carbohydrat mỗi ngày. Xét nghiệm này phải được thực hiện ở phòng thí nghiệm được chuẩn hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. 5 - Ở bệnh nhân có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết hoặc mức glucose huyết tương ở thời điểm bất kỳ ≥ 200 mg/dL (hay 11,1 mmol/L).

Nếu không có triệu chứng kinh điển của tăng glucose huyết (bao gồm tiểu nhiều, uống nhiều, ăn nhiều, sụt cân không rõ nguyên nhân), xét nghiệm glucose chẩn đoán ở trên cần được thực hiện lặp lại lần 2 để xác định chẩn đoán. Thời gian thực hiện xét nghiệm lần 2 sau lần thứ nhất có thể từ 1 đến 7 ngày. Trong điều kiện thực tế tại Việt Nam, nên dùng phương pháp đơn giản và hiệu quả để chẩn đoán đái tháo đường là định lượng glucose huyết tương lúc đói 2 lần ≥ 126 mg/dL (hay 7 mmol/L). Nếu HbA1C được đo tại phòng xét nghiệm được chuẩn hóa quốc tế, có thể đo HbA1C 2 lần để chẩn đoán ĐTĐ.

Chẩn đoán tiền đái tháo đường (Prediabetes) [9]. Khi có một trong các rối loạn sau đây: - Rối loạn glucose huyết đói (impaired fasting glucose: IFG): Glucose huyết tương lúc đói từ 100 (5,6mmol/L) đến 125 mg/dL (6,9 mmol/L), hoặc - Rối loạn dung nạp glucose (impaired glucose tolerance: IGT): Glucose huyết tương ở thời điểm 2 giờ sau khi làm nghiệm pháp dung nạp glucose bằng đường uống 75 g từ 140 (7.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ