Khóa luận tốt nghiệp Y tế: Nguyễn thị an quỳnh phân tích sự tin tƣởng của

Nghiên cứu về sự tin tưởng của bệnh nhân ung thư vú với phác đồ nội tiết bổ trợ và thực trạng thông tin thuốc tại bệnh viện chuyên khoa ung bướu

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2020

86
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu Nguyễn Thị An Quỳnh

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị An Quỳnh từ Trường Đại học Dược Hà Nội năm 2020 tập trung vào phân tích sự tin tưởng của bệnh nhân ung thư vú đối với phác đồ nội tiết bổ trợ. Nghiên cứu này được thực hiện tại các bệnh viện chuyên khoa ung bướu uy tín, với sự hướng dẫn của các giảng viên nhiều kinh nghiệm. Đây là một đề tài quan trọng trong lĩnh vực dược lâm sàng ung thư, giúp cải thiện chất lượng chăm sóc và điều trị cho bệnh nhân ung thư vú. Nghiên cứu nhấn mạnh mối liên quan giữa thông tin thuốcsự tin tưởng của bệnh nhân, một yếu tố then chốt ảnh hưởng đến tuân thủ điều trị.

1.1. Ý nghĩa của khóa luận trong y học

Sự tin tưởng của bệnh nhân là nền tảng để đạt hiệu quả điều trị tối ưu. Khóa luận Nguyễn Thị An Quỳnh giúp xác định những yếu tố ảnh hưởng đến sự tin tưởng của bệnh nhân ung thư vú với phác đồ nội tiết bổ trợ, từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện.

1.2. Phương pháp tiếp cận nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính và định lượng, khảo sát bệnh nhân ung thư vú tại các bệnh viện chuyên khoa. Các công cụ đánh giá được áp dụng bao gồm thang đo tin tưởng vào phác đồ (BMQ)bảng đánh giá thông tin thuốc (EORTC QLQ-INFO25).

II. Liệu pháp nội tiết bổ trợ trong điều trị ung thư vú

Liệu pháp nội tiết bổ trợ là một phương pháp điều trị quan trọng sau phẫu thuật để giảm nguy cơ tái phát ở bệnh nhân ung thư vú. Phác đồ này sử dụng các thuốc như tamoxifen, inhibitor aromatase (AI) để chặn hoạt động của hormone estrogen. Tuân thủ điều trị dài hạn là thách thức lớn do tác dụng phụthời gian điều trị kéo dài. Nghiên cứu của Nguyễn Thị An Quỳnh chỉ ra rằng sự tin tưởng vào phác đồcung cấp thông tin thuốc tốt là những yếu tố then chốt giúp bệnh nhân tuân thủ điều trị.

2.1. Cơ chế hoạt động của liệu pháp nội tiết

Các thuốc nội tiết bổ trợ hoạt động bằng cách cải thiện sự sống sót của bệnh nhân thông qua việc ngăn chặn hormone estrogen. Tamoxifen hoạt động như antagonist estrogen, trong khi inhibitor aromatase giảm sản xuất estrogen ở phụ nữ sau mãn kinh.

2.2. Thách thức tuân thủ điều trị

Bệnh nhân ung thư vú gặp khó khăn như tác dụng phụ, thời gian điều trị dài (5-10 năm). Sự tin tưởngthông tin thuốc chặn chẽ giúp cải thiện tuân thủ điều trịkết quả lâm sàng tốt hơn.

III. Vai trò của thông tin thuốc đối với sự tin tưởng bệnh nhân

Thông tin thuốc là yếu tố críu cấp ảnh hưởng đến sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị. Nghiên cứu Nguyễn Thị An Quỳnh chứng minh rằng bệnh nhân ung thư vú cần hiểu rõ về tác dụng, tác dụng phụ, cách dùng thuốc. Khi cung cấp thông tin đầy đủ, bệnh nhân tin tưởng hơn vào phác đồ nội tiết bổ trợ, dẫn đến tuân thủ điều trị cao hơn. Các nguồn thông tin bao gồm bác sĩ, dược sĩ, tài liệu giáo dục. Mức độ hài lòng của bệnh nhân với thông tin thuốc trực tiếp liên quan đến kết quả điều trị.

3.1. Nhu cầu thông tin của bệnh nhân ung thư vú

Bệnh nhân ung thư vú muốn biết về tác dụng của thuốc, tác dụng phụ tiềm ẩn, tương tác thuốc. Thông tin rõ ràng về phác đồ điều trị giúp bệnh nhân đưa ra quyết định thông minhtăng sự tin tưởng vào quá trình điều trị.

3.2. Nguồn cung cấp thông tin chính

Các nguồn thông tin chính bao gồm bác sĩ (khuyến cáo chính), dược sĩ lâm sàng (chi tiết về thuốc), tài liệu bệnh nhân giáo dục, nhóm hỗ trợ bệnh nhân. Dược sĩ có vai trò quan trọng trong cung cấp thông tin thuốc độc lậptăng sự tin tưởng.

IV. Công cụ đánh giá sự tin tưởng và khuyến nghị

Nghiên cứu Nguyễn Thị An Quỳnh sử dụng Belief about Medicine Questionnaire (BMQ) để đánh giá sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ nội tiết bổ trợ. Thang đo BMQ giúp xác định những quan điểm tích cực và tiêu cực của bệnh nhân về thuốc. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần cải thiện hệ thống cung cấp thông tin thuốc tại các bệnh viện ung bướu. Các khuyến nghị bao gồm đào tạo dược sĩ lâm sàng, phát triển tài liệu giáo dục bệnh nhân, tăng cường tương tác bệnh nhân-nhân viên y tế để xây dựng sự tin tưởngcải thiện kết quả điều trị.

4.1. Công cụ đánh giá BMQ Belief about Medicine Questionnaire

BMQ là công cụ chuẩn hóa giúp đánh giá sự tin tưởng bệnh nhân vào thuốc, bao gồm quan điểm về tính cần thiếtquan điểm về lo ngại. Phiên bản tiếng Việt (BMQ-V) được sử dụng trong nghiên cứu của Nguyễn Thị An Quỳnh, cho phép đánh giá chính xác sự tin tưởng của bệnh nhân ung thư vú Việt Nam.

4.2. Khuyến nghị cải thiện chính sách

Cần tăng cường vai trò dược sĩ lâm sàng trong tư vấn bệnh nhân, phát triển chương trình giáo dục về phác đồ nội tiết bổ trợ, đánh giá định kỳ sự tin tưởng bệnh nhân. Cải thiện thông tin thuốc sẽ nâng cao sự tin tưởngtuân thủ điều trị long-term.

21/12/2025
Nguyễn thị an quỳnh phân tích sự tin tƣởng của bệnh nhân ung thƣ vú đối với phác đồ nội tiết bổ trợ và sự liên quan của thực trạng thông tin thuốc cho bệnh nhân tại một số bệnh viện chuyên khoa ung bƣớu khóa luận tốt nghiệp dƣợ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những thập kỷ qua, vấn đề về sự tin tưởng của bệnh nhân đối với phác đồ điều trị và tác động của sự tin tưởng đến việc sử dụng thuốc ngày càng được quan tâm. Có một số nghiên cứu báo cáo rằng nhiều bệnh nhân có suy nghĩ tiêu cực về thuốc như là có 13,1% bệnh nhân ung thư vú ở Mỹ không tin vào hiệu quả của Tamoxifen và tỷ lệ bỏ điều trị ở nhóm bệnh nhân này là 35,3%, gấp 3 lần tỷ lệ bỏ điều trị ở những bệnh nhân tin tưởng vào thuốc [16], [37]. Như vậy, sự tin tưởng của bệnh nhân vào thuốc là điều cần thiết nhằm thúc đẩy bệnh nhân tiếp tục sử dụng thuốc để điều trị các bệnh lý mạn tính [17]. Nhiều nghiên cứu trước đó cũng đã chứng minh nếu bệnh nhân tin tưởng rằng việc sử dụng thuốc là cần thiết thì thường tuân thủ tốt hơn trong khi những bệnh nhân lo ngại về ảnh hưởng tiêu cực của thuốc thì tuân thủ kém hơn [16], [42].

Quá trình điều trị các bệnh lý mạn tính đặc biệt là ung thư thường sử dụng các loại thuốc khác nhau và kéo dài trong nhiều năm (như là với hóa trị liệu đường uống, liệu pháp nội tiết bổ trợ,…). Vì vậy, việc đánh giá sự tin tưởng của bệnh nhân ung thư vào phác đồ điều trị và các yếu tố ảnh hưởng đến sự tin tưởng là vô cùng quan trọng trong việc dự đoán và cải thiện tuân thủ điều trị ở bệnh nhân [17]. Hiện nay, những tiến bộ trong phát hiện sớm ung thư vú và điều trị bằng liệu pháp nội tiết bổ trợ đã giúp kéo dài thời gian sống thêm của bệnh nhân ung thư vú. Quá trình điều trị bằng thuốc nội tiết kéo dài đòi hỏi bệnh nhân phải có kiến thức điều trị đầy đủ đặc biệt là về thông tin thuốc [42], [46].

Các nghiên cứu cho thấy nhiều bệnh nhân chưa nhận được đầy đủ thông tin như là có 20% bệnh nhân ung thư vú tại Nhật Bản báo cáo họ không nhận được thông tin về tác dụng không mong muốn của liệu pháp nội tiết, hơn nữa 30,7% bệnh nhân trong nghiên cứu này không hài lòng với thông tin được bác sĩ cung cấp [4]. Thực trạng thông tin thuốc và mức độ hài lòng của bệnh nhân với thông tin nhận được có sự khác biệt rất lớn giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, giữa các bệnh viện và giữa từng bệnh nhân [12]. Trong khi đó, thông tin thuốc đã được chứng minh trong nhiều nghiên cứu là một yếu tố liên quan đến sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ điều trị. Việc cung cấp đầy đủ và chính xác thông tin thuốc cho bệnh nhân giúp nâng cao kiến thức cho bệnh nhân về các vấn đề liên quan đến thuốc [3], [21].

Những nghiên cứu trước đây trên thế giới báo cáo rằng bệnh nhân được cung cấp đầy đủ và hài lòng với thông tin 1 thuốc có mức độ tin tưởng vào sự cần thiết phải sử dụng thuốc cao hơn và mức độ lo ngại về việc sử dụng thuốc thấp hơn [7], [21], [28]. Tuy nhiên ở Việt Nam, chưa có nghiên cứu nào khảo sát về sự tin tưởng của bệnh nhân ung thư vú đối với phác đồ điều trị cũng như phân tích các yếu tố có thể liên quan đến vấn đề này, trong đó có sự hài lòng của bệnh nhân đối với thông tin thuốc. Cũng chưa có một hệ thống trung tâm thông tin thuốc dành cho bệnh nhân ung thư với các nguồn cung cấp thông tin được cho là chính thống ngoài đội ngũ nhân viên y tế trực tiếp điều trị cho đối tượng bệnh nhân này tại Việt Nam. Mặt khác, bệnh viện Ung bướu Hà Nội và bệnh viện K là hai bệnh viện chuyên khoa ung thư với số lượt bệnh nhân đến khám và nhận cấp phát thuốc nội tiết điều trị ung thư vú lớn nhất miền Bắc.

Với mong muốn hướng tới mục tiêu cải thiện tỷ lệ tuân thủ sử dụng thuốc và nâng cao hiệu quả điều trị, thực trạng thông tin thuốc cũng như sự tin tưởng của bệnh nhân đối với phác đồ điều trị là những vấn để được cân nhắc để đưa ra những can thiệp phù hợp. Do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Phân tích sự tin tưởng của bệnh nhân ung thư vú đối với phác đồ nội tiết bổ trợ và sự liên quan của thực trạng thông tin thuốc cho bệnh nhân tại một số bệnh viện chuyên khoa ung bướu” với các mục tiêu: 1. Mô tả thực trạng thông tin thuốc trên bệnh nhân ung thư vú điều trị nội tiết bổ trợ. Khảo sát sự tin tưởng của bệnh nhân vào phác đồ thuốc nội tiết điều trị ung thư vú.

Phân tích các yếu tố thuộc về thông tin thuốc và một số yếu tố khác liên quan đến sự tin tưởng vào phác đồ thuốc nội tiết điều trị ung thư vú. Tổng quan về ung thƣ vú và liệu pháp nội tiết bổ trợ cho bệnh nhân ung thƣ vú 1. Đại cương và dịch tễ ung thư vú Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), ung thư là một bệnh lý ác tính bao gồm sự tăng sinh mất kiểm soát và xâm lấn lan rộng của tế bào. Khi bị kích thích bởi các tác nhân gây ung thư, các tế bào có thể tăng sinh một cách vô hạn mà không tuân theo các cơ chế kiểm soát về mặt phát triển của cơ thể.

Ung thư có thể bắt đầu tại bất kì cơ quan, bộ phận nào trong cơ thể như não, xương, gan, phổi, máu [1], [2]. Ung thư vú (UTV) là loại ung thư mà các tế bào ác tính xuất hiện bắt đầu từ các mô vùng vú và có thể xâm lấn thậm chí lan rộng và phát triển tại các cơ quan khác. Tế bào ung thư vú thường di căn đến các hạch bạch huyết ở nách, hạch vú, hạch trung thất và di căn xa đến xương, phổi, não hoặc gan [1], [32]. Trên thế giới có khoảng 2,1 triệu trường hợp ung thư vú được chẩn đoán mới vào năm 2018 chiếm tỷ lệ 25% trường hợp ung thư ở phụ nữ.

UTV là loại ung thư được chẩn đoán thường xuyên nhất ở đa số các quốc gia (154 trên tổng số 185 quốc gia) và cũng là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do ung thư ở hơn 100 quốc gia [9]. Theo thống kê của tổ chức Ghi nhận ung thư toàn cầu (Globocan) năm 2018, nước ta có 15 229 ca mắc mới ung thư vú chiếm tỷ lệ 9,2% tổng số ca mắc mới ung thư trên cả nước [47]. Hiện nay, các biện pháp điều trị ung thư vú được sử dụng gồm có: Phẫu thuật, hóa trị, xạ trị, liệu pháp nhắm đích và liệu pháp nội tiết. Trong đó liệu pháp nội tiết có thời gian điều trị kéo dài và bệnh nhân thường điều trị ngoại trú [2].

Liệu pháp nội tiết bổ trợ trong điều trị ung thư vú Hiện nay, liệu pháp nội tiết bổ trợ trong điều trị ung thư vú đóng vai trò quan trọng trong việc giảm tỷ lệ tái phát và tử vong do ung thư vú [2]. Cơ sở của liệu pháp nội tiết trong điều trị ung thư vú Các tế bào vú bình thường và một số tế bào ung thư vú có các thụ thể gắn vào nội tiết tố estrogen và progesteron, phụ thuộc vào các nội tiết tố này để phát triển. Các tế bào ung thư vú có thể có một trong hai, cả hai (ER dương tính – ER+ và/hoặc PR dương tính – PR+) hoặc không có các thụ thể này (ER và PR âm tính – ER-/PR-) [32]. 4 Tất cả các bệnh nhân ung thư vú thường được kiểm tra hai thụ thể nội tiết trên mẫu sinh thiết hoặc giải phẫu bệnh khi khối u được cắt bỏ bằng phẫu thuật.

Một khối u được coi là dương tính với thụ thể nội tiết nếu ít nhất 1% các tế bào được kiểm tra có thụ thể estrogen và/hoặc progesteron. Khoảng 2/3 số bệnh nhân có ít nhất một trong hai thụ thể, tỷ lệ này cao hơn ở phụ nữ lớn tuổi [32]. Các kết quả này sẽ hỗ trợ cho việc quyết định phác đồ điều trị phù hợp; khi UTV được xác định có một trong hai hoặc cả hai thụ thể nội tiết, liệu pháp nội tiết bổ trợ có thể được sử dụng [32]. Liệu pháp nội tiết bổ trợ là một biện pháp điều trị ung thư vú.

Liệu pháp này có thể làm gia tăng số lượng, ức chế hoạt động hoặc loại bỏ các thụ thể nội tiết trong cơ thể từ đó làm giảm mức estrogen hoặc ngăn chặn estrogen tác động lên tế bào ung thư vú [2]. Để hướng tới mục tiêu đó, có bốn loại liệu pháp nội tiết được áp dụng: o Cắt bỏ buồng trứng vĩnh viễn o Ức chế buồng trứng tạm thời o Ngăn chặn sản xuất estrogen o Ngăn chặn hoạt động estrogen Liệu pháp nội tiết bổ trợ không có tác dụng đối với bệnh nhân ung thư vú âm tính với thụ thể nội tiết [32]. Các nhóm thuốc được sử dụng trong liệu pháp nội tiết bổ trợ Theo hướng dẫn của NCCN, thuốc đại diện và cơ chế hoạt động của các nhóm thuốc được sử dụng trong liệu pháp nội tiết bổ trợ được trình bày trong Bảng 1.1 Cơ chế hoạt động của các nhóm thuốc nội tiết bổ trợ Nhóm thuốc Hoạt chất Cơ chế hoạt động Ức chế buồng Goserelin Ức chế bài tiết LH từ tuyến yên từ đó ngăn buồng trứng Leuprolid trứng sản xuất estrogen Ngăn chặn sản Anastrozol Ngăn chặn hoạt động của enzym aromatase mà cơ xuất estrogen Letrozol thể sử dụng để tạo ra estrogen. Lựa chọn thuốc nội tiết trong điều trị ung thư vú Có khoảng 80% bệnh nhân có thụ thể nội tiết dương tính, những bệnh nhân này thường được chỉ định sử dụng liệu pháp nội tiết bổ trợ trong vòng 5 đến 10 năm sau khi phẫu thuật [2].

Việc sử dụng liệu pháp nội tiết bổ trợ làm giảm khoảng 50% tỷ lệ tái phát và khoảng 30% tỷ lệ tử vong đối với bệnh nhân ung thư vú có thụ thể nội tiết dương tính [42]. Liệu pháp nội tiết được lựa chọn dựa trên loại ung thư vú và tình trạng kinh nguyệt của bệnh nhân. Ung thư vú có thể phân loại dựa trên mức độ lan rộng của tế bào ung thư. UTV tại chỗ là loại ung thư vú mà tế bào ác tính khu trú tại chỗ và không lan vào các mô vú xung quanh.

UTV xâm lấn là loại ung thư vú mà tế bào ác tính đã lan vào các mô vú xung quanh [32]. Đa số bệnh nhân phát hiện bệnh khi đã sang giai đoạn UTV xâm lấn. Tình trạng kinh nguyệt có thể phân chia thành 2 giai đoạn: trước và sau mãn kinh. Phụ nữ được coi là mãn kinh khi không có kinh nguyệt trong một hoặc nhiều năm [32].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ