Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng và hình thành nhân cách của mỗi cá nhân. Tại Việt Nam, quan hệ gia đình được pháp luật công nhận và bảo vệ bắt nguồn từ sự kiện pháp lý kết hôn giữa nam và nữ. Kế thừa các văn bản pháp luật qua các thời kỳ gồm Luật Hôn nhân và gia đình năm 1959, năm 1986 và năm 2000, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 tiếp tục xác lập nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng là một trong những nguyên tắc cốt lõi của chế độ hôn nhân và gia đình Việt Nam.
Nguyên tắc này được hiến định tại khoản 1 Điều 36 Hiến pháp năm 2013 và cụ thể hóa tại khoản 1 Điều 39 Bộ luật Dân sự năm 2015, khẳng định sự bảo hộ của Nhà nước đối với quyền tự do kết hôn, quyền tự do ly hôn và bình đẳng giới. Trong bối cảnh phát triển xã hội, dù các hành vi sắp đặt, cưỡng ép hôn nhân truyền thống đã giảm dần, nhưng các biến tướng vi phạm quyền tự do kết hôn và ly hôn lại xuất hiện với thủ đoạn tinh vi hơn, gây khó khăn cho công tác bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Vì vậy, tác giả Trần Ngọc Hà đã lựa chọn đề tài "Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" cho khóa luận tốt nghiệp ngành Luật học tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý về nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế, vướng mắc trong việc xây dựng và thực thi pháp luật; từ đó đề xuất quan điểm và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết thực trạng vi phạm nguyên tắc này.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, tác giả xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
- Nghiên cứu thực tiễn thi hành nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Nhận xét, phân tích những kết quả đạt được và các vướng mắc, tồn tại trong công tác thực hiện sự tự nguyện, tiến bộ trong hôn nhân.
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về hôn nhân tự nguyện, tiến bộ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận:
- Đối tượng nghiên cứu: Nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (bao gồm các quy định ghi nhận, bảo đảm quyền tự do kết hôn, quyền tự do ly hôn và thực tiễn thực hiện các quy định pháp luật).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào các quy định và thực tiễn áp dụng pháp luật bảo đảm quyền tự do kết hôn và quyền tự do ly hôn của cá nhân.
- Phạm vi thời gian: Giới hạn từ khi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 có hiệu lực thi hành đến năm 2023.
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu trong phạm vi các văn bản pháp luật do các cơ quan nhà nước cấp trung ương ban hành và thực tiễn áp dụng tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được xây dựng dựa trên nền tảng phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước Việt Nam về hôn nhân và gia đình.
Các văn bản quy phạm pháp luật và tài liệu lý luận chính được sử dụng bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (khoản 1 Điều 36).
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (khoản 1 Điều 39).
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (các Điều 3, Điều 5, Điều 8, Điều 10, Điều 11, Điều 51, Điều 55, Điều 56).
- Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 (Điều 181 quy định về tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện).
- Nghị định số 82/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình (Điều 59).
- Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Các công trình khoa học tiền bối: Luận án tiến sĩ của Bùi Thị Mừng (2015) về chế định kết hôn; Luận văn thạc sĩ của Lương Thị Mai Quỳnh (2018) về chế định ly hôn; Luận văn thạc sĩ của Lý Tú Linh (2021) về tự nguyện kết hôn; các bài viết chuyên khảo của Ngô Thị Hường (1999) và Bùi Thị Mừng (2006) trên Tạp chí Luật học.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể bao gồm:
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Thu thập, nghiên cứu các văn bản pháp luật của Việt Nam, giáo trình, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ và các bài báo khoa học chuyên ngành để xây dựng cơ sở lý luận.
- Phương pháp phân tích: Phân tích các khái niệm khoa học pháp lý, quan điểm học thuật, nội dung từng điều luật về tự do kết hôn, tự do ly hôn, các điều kiện cấm và cơ chế xử lý hành vi vi phạm.
- Phương pháp hệ thống hóa: Sắp xếp, tổng hợp nguồn thông tin, án văn thực tế và số liệu thống kê từ các cơ quan nghiên cứu xã hội học thành một hệ thống luận điểm nhất quán.
Nguồn dữ liệu thực tiễn được trích xuất từ số liệu của Viện nghiên cứu Gia đình và Giới năm 2018 và các bản án, quyết định giải quyết việc hôn nhân gia đình của Tòa án nhân dân, tiêu biểu là Quyết định số 20/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Lý luận chung về nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ
Chương này tập trung làm rõ bản chất pháp lý và xã hội của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ. Trong phạm vi khóa luận, hôn nhân tự nguyện, tiến bộ được tiếp cận dưới giác độ là quyền tự do kết hôn và quyền tự do ly hôn của cá nhân mà không vi phạm các điều cấm của pháp luật.
Sự tự nguyện đòi hỏi sự thống nhất tuyệt đối giữa ý chí nội tâm và hành vi biểu hiện ra bên ngoài. Khi kết hôn, nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng xuất phát từ tình cảm, sự gắn bó và mong muốn cùng chung sống, không vì mục đích vụ lợi hay bị ép buộc. Ngược lại, khi mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài, việc ly hôn tự nguyện là giải pháp giải phóng các bên khỏi bế tắc. Theo số liệu của Viện nghiên cứu Gia đình và Giới năm 2018, trung bình cả nước có trên 60.000 vụ ly hôn mỗi năm, chiếm tỷ lệ 30% tổng số cặp đôi kết hôn (tương đương 10 cặp kết hôn thì có 3 cặp ly hôn).
Về cơ sở lý luận, tác giả viện dẫn quan điểm của C. Mác, Ph. Ăng-ghen và V.I. Lênin về việc xóa bỏ chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa để giải phóng phụ nữ, xây dựng hôn nhân dựa trên tình yêu chân chính và bình đẳng giữa hai giới. Ăng-ghen khẳng định hôn nhân có giá trị khi là sự thỏa thuận tự nguyện từ hai phía và trong suốt thời gian chung sống hai bên có quyền và nghĩa vụ ngang nhau; đồng thời ủng hộ việc giải quyết ly hôn khi hạnh phúc gia đình thực sự không còn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh gia đình là tế bào, là hạt nhân của xã hội; muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì phải chú trọng xây dựng gia đình tốt, ấm no, bình đẳng và tiến bộ.
Về cơ sở thực tiễn, khóa luận phân tích sự phát triển của quyền tự do hôn nhân qua các hình thái xã hội:
- Thời kỳ phong kiến: Hôn nhân hoàn toàn do cha mẹ sắp đặt theo quan niệm "môn đăng hộ đối", "cha mẹ đặt đâu con ngồi đó". Người phụ nữ chịu sự bất bình đẳng nặng nề, không có quyền yêu cầu ly hôn mà chỉ bị chồng rẫy bỏ thông qua các tục lệ như "thất xuất", "nghĩa tuyệt".
- Thời kỳ tư sản: Nam nữ có quyền tự do yêu đương và kết hôn, người phụ nữ có tiếng nói hơn; tuy nhiên hôn nhân vẫn bị chi phối bởi điều kiện tài sản, xuất thân và việc ly hôn chủ yếu dựa trên căn cứ xác định lỗi của một bên, mang nặng tính hình thức.
- Thời kỳ xã hội chủ nghĩa và hiện đại: Pháp luật bảo hộ hôn nhân tự nguyện thực chất, coi trọng bình đẳng giới, thừa nhận quyền tự định đoạt của cá nhân khi tham gia cũng như khi chấm dứt quan hệ hôn nhân.
Về ý nghĩa xã hội, khóa luận khẳng định việc ghi nhận nguyên tắc giúp bảo vệ quyền con người, tạo môi trường gia đình lành mạnh để giáo dục thế hệ trẻ. Tác giả đồng tình với quan điểm của TS. Ngô Thị Hường (1999) khi phân biệt ranh giới pháp lý: việc con cái lắng nghe, tiếp thu và lựa chọn kết hôn theo lời khuyên bảo, định hướng của cha mẹ không bị coi là thiếu tự nguyện, chừng nào người con không bị đe dọa, ép buộc đến mức tê liệt ý chí tự định đoạt.
Chương 2: Nội dung nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 trong việc ghi nhận, bảo đảm và xử lý các hành vi xâm phạm nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ.
Nội dung ghi nhận và bảo đảm quyền tự do kết hôn:
- Điểm b khoản 1 Điều 8 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định điều kiện kết hôn: "Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định".
- Độ tuổi kết hôn luật định: Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên (bảo đảm sự hoàn thiện về tâm sinh lý và năng lực hành vi dân sự theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015).
- Các hành vi bị nghiêm cấm theo điểm b khoản 2 Điều 5 bao gồm:
- Tảo hôn: Việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn (khoản 8 Điều 3).
- Cưỡng ép kết hôn: Hành vi đe dọa, uy hiếp tinh thần, hành hạ, ngược đãi, yêu sách của cải hoặc hành vi khác để buộc người khác phải kết hôn trái với ý muốn của họ (khoản 9 Điều 3).
- Lừa dối kết hôn: Hành vi cố ý của một bên hoặc của người thứ ba làm cho bên kia hiểu sai lệch dẫn đến đồng ý kết hôn (khoản 3 Điều 3 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP).
- Cản trở kết hôn: Đe dọa, uy hiếp tinh thần, ngược đãi hoặc hành vi khác nhằm ngăn cản việc kết hôn của người có đủ điều kiện (khoản 10 Điều 3).
- Người mất năng lực hành vi dân sự không được kết hôn do không thể tự chủ và bày tỏ ý chí độc lập.
- Quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật do bị cưỡng ép, lừa dối được trao trực tiếp cho người bị cưỡng ép, lừa dối tự mình yêu cầu hoặc đề nghị các cơ quan, tổ chức (cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, trẻ em, Hội liên hiệp phụ nữ) yêu cầu Tòa án giải quyết theo Điều 10.
Nội dung ghi nhận và bảo đảm quyền tự do ly hôn:
- Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định quyền yêu cầu giải quyết ly hôn thuộc về vợ, chồng hoặc cả hai người; cha mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu khi một bên vợ/chồng bị bệnh tâm thần, mất nhận thức đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình.
- Hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng: Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn khi vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi (nhằm bảo vệ phụ nữ và trẻ em).
- Thuận tình ly hôn (Điều 55): Tòa án công nhận khi hai bên thật sự tự nguyện ly hôn và đã thỏa thuận về việc chia tài sản, trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con trên cơ sở bảo đảm quyền lợi chính đáng của vợ và con.
- Ly hôn theo yêu cầu của một bên (khoản 1 Điều 56): Giải quyết khi hòa giải không thành và có căn cứ về bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ làm hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được.
- Nghiêm cấm các hành vi cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn và cản trở ly hôn (khoản 9, khoản 10 Điều 3 và điểm e khoản 2 Điều 5).
Chế tài xử lý vi phạm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ:
| Lĩnh vực xử lý |
Căn cứ pháp lý |
Biện pháp và mức chế tài |
Thẩm quyền xử lý |
| Dân sự / Hôn nhân & Gia đình |
Điều 11 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 4 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP |
Hủy việc kết hôn trái pháp luật nếu đương sự vẫn không đủ điều kiện kết hôn; hoặc công nhận quan hệ hôn nhân kể từ thời điểm các bên có đủ điều kiện kết hôn nếu hai bên cùng có yêu cầu. |
Tòa án nhân dân |
| Hành chính |
Điểm c khoản 2 Điều 59 Nghị định số 82/2020/NĐ-CP |
Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn; cưỡng ép ly hôn, lừa dối ly hôn. |
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh (trên cơ sở biên bản của công chức tư pháp - hộ tịch) |
| Hình sự |
Điều 181 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) |
Phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm đối với tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện (áp dụng khi đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm). |
Tòa án nhân dân theo trình tự tố tụng hình sự |
Chương 3: Thực tiễn thực hiện nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và một số kiến nghị
Chương 3 đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật trong đời sống xã hội, nhận diện những chuyển biến tích cực cũng như các vi phạm phát sinh trên thực tế.
Về mặt tích cực, việc thực hiện nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ đã làm thay đổi nhận thức xã hội, loại bỏ phần lớn quan niệm ép duyên của chế độ cũ. Quyền tự do tìm hiểu trước hôn nhân được đề cao. Khóa luận dẫn chứng các phong tục tập quán truyền thống tiến bộ thể hiện tính tự nguyện của các dân tộc thiểu số:
- Tục "ngủ thăm" của người dân tộc Thái: Sau thời gian tìm hiểu, đôi nam nữ được gia đình hai bên cho phép ngủ thăm (chỉ trò chuyện, không ngủ chung giường) để tìm hiểu tính cách, nếp sống gia đình trước khi chính thức quyết định đi đến hôn nhân.
- Tập quán "kéo vợ/bắt vợ" của người dân tộc Mông: Diễn ra trên cơ sở đôi trai gái đã yêu thương nhau từ trước nhưng hoàn cảnh nghèo khó hoặc không đủ tiền thách cưới nên cùng bàn bạc, thống nhất để chàng trai "kéo" cô gái về nhà, sau đó gia đình nhà trai sang nhà gái làm lễ cưới chính thức.
Bên cạnh mặt tích cực, số lượng yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm nguyên tắc tự nguyện (đặc biệt là lừa dối kết hôn) được Tòa án thụ lý giải quyết vẫn diễn biến phức tạp. Khóa luận trích dẫn một vụ việc thực tế điển hình:
- Vụ án: Quyết định số 20/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/01/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh về việc yêu cầu hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh Đặng Duy K và chị Nguyễn Thị V.
- Nội dung: Anh Đặng Duy K và chị Nguyễn Thị V đăng ký kết hôn ngày 14/01/2013 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh (Giấy chứng nhận kết hôn số 09, quyển số 01/2013). Sau đó anh K phát hiện chị V đã che giấu tình trạng hôn nhân hợp pháp đang tồn tại với anh Milan F.
- Phán quyết của Tòa án: Xác định anh K bị lừa dối khi kết hôn, Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Đặng Duy K và chị Nguyễn Thị V. Về con chung (cháu Đặng Nguyễn Thảo T, sinh ngày 20/7/2012), giao cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng, anh K không phải cấp dưỡng; trong thời gian chị V chưa về nước, giao bà ngoại là Trương Thị L trực tiếp chăm sóc; tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trên cơ sở phân tích nguyên nhân tồn tại, vướng mắc (mục 3.1.2 và 3.1.3), tác giả đưa ra các nhóm kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật và các giải pháp thực thi khác (mục 3.2.1 và 3.2.2) nhằm tăng cường hiệu quả thi hành nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ trong thực tiễn.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp và khái quát các kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ cấu trúc pháp lý của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ trong hệ thống pháp luật Việt Nam, bao gồm cả hai khía cạnh độc lập nhưng thống nhất: tự do kết hôn và tự do ly hôn.
- Cung cấp số liệu thống kê cụ thể của Viện nghiên cứu Gia đình và Giới (2018) về tỷ lệ ly hôn thực tế tại Việt Nam (>60.000 vụ/năm, tỷ lệ 30%).
- Hệ thống hóa các chế tài xử lý vi phạm từ góc độ pháp luật hôn nhân gia đình (hủy kết hôn trái pháp luật), xử phạt vi phạm hành chính (Nghị định 82/2020/NĐ-CP) và trách nhiệm hình sự (Điều 181 Bộ luật Hình sự 2015).
- Minh chứng thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua phân tích án văn thực tế tại Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh (Quyết định số 20/2023/QĐST-HNGĐ).
Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự xác định khóa luận là công trình nghiên cứu tổng quát và hệ thống về nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ dưới cả hai góc độ kết hôn và ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, khắc phục sự phân tán của các công trình trước đây vốn chỉ nghiên cứu riêng rẽ chế định kết hôn hoặc chế định ly hôn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của khóa luận thể hiện ở việc phạm vi nghiên cứu tập trung chủ yếu vào các văn bản pháp luật do cơ quan trung ương ban hành và một số án văn, tập quán điển hình. Do giới hạn của khóa luận tốt nghiệp cử nhân, đề tài chưa thể bao quát toàn diện số liệu thống kê xét xử của hệ thống Tòa án trên phạm vi toàn quốc qua từng năm.
Hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo được xác định là:
- Tiếp tục khảo sát, đánh giá thực tiễn thi hành nguyên tắc tự nguyện, tiến bộ tại các địa bàn vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nơi tồn tại nhiều phong tục tập quán phức tạp.
- Nghiên cứu sâu hơn về các cơ chế phát hiện và xử lý hành vi lừa dối, cưỡng ép kết hôn/ly hôn trong bối cảnh ứng dụng công nghệ thông tin và đăng ký hộ tịch điện tử.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên, học viên ngành Luật: Đặc biệt là sinh viên chuyên ngành Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình tại các cơ sở đào tạo luật khi nghiên cứu về điều kiện kết hôn, các trường hợp cấm kết hôn, thủ tục hủy kết hôn trái pháp luật và chế định ly hôn.
- Cán bộ tư pháp - hộ tịch và cơ quan tiến hành tố tụng: Tham khảo hệ thống chế tài xử lý vi phạm hành chính và hình sự, cũng như định hướng áp dụng án lệ, quyết định hủy kết hôn trái pháp luật do bị lừa dối.
- Các tổ chức xã hội về quyền con người và bình đẳng giới: Sử dụng cơ sở lý luận và thực tiễn để tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ quyền tự quyết trong hôn nhân cho phụ nữ và thanh thiếu niên.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo số liệu được khóa luận trích dẫn, tình trạng ly hôn tại Việt Nam năm 2018 diễn ra như thế nào?
Theo số liệu thống kê của Viện nghiên cứu Gia đình và Giới năm 2018 được nêu trong khóa luận, trung bình cả nước có trên 60.000 vụ ly hôn mỗi năm, chiếm tỷ lệ 30% tổng số cặp đôi (cứ 10 cặp đôi kết hôn thì có 3 cặp ly hôn).
2. Trường hợp con cái kết hôn theo sự sắp xếp, khuyên bảo của cha mẹ thì có bị coi là vi phạm sự tự nguyện kết hôn không?
Khóa luận (đồng quan điểm với TS. Ngô Thị Hường) khẳng định việc con cái lắng nghe và quyết định làm theo lời khuyên của cha mẹ không bị coi là thiếu tự nguyện, miễn là người con không chịu áp lực đe dọa dẫn đến tê liệt ý chí tự do lựa chọn của bản thân.
3. Pháp luật quy định trường hợp nào người chồng bị hạn chế quyền yêu cầu ly hôn?
Theo khoản 3 Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp người vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
4. Mức xử lý hình sự đối với tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn theo Bộ luật Hình sự năm 2015 là gì?
Theo Điều 181 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), người có hành vi cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ đã bị xử phạt vi phạm hành chính mà còn vi phạm thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 03 năm.
5. Trong Quyết định số 20/2023/QĐST-HNGĐ của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, Tòa án đã xử lý yêu cầu hủy kết hôn vì lý do gì?
Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xử hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Đặng Duy K và chị Nguyễn Thị V vì xác định anh K bị lừa dối kết hôn; tại thời điểm đăng ký kết hôn với anh K, chị V đã che giấu việc mình đang có quan hệ hôn nhân hợp pháp với anh Milan F.
Kết luận
Khóa luận của tác giả Trần Ngọc Hà đã làm rõ toàn diện cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tác phẩm phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa quyền tự do kết hôn, quyền tự do ly hôn với yêu cầu bảo đảm bình đẳng giới và trật tự kỷ cương pháp luật. Các số liệu thống kê xã hội học, hệ thống chế tài ba cấp độ (dân sự, hành chính, hình sự) và dẫn chứng thực tế từ án văn đã khẳng định giá trị khoa học và tính ứng dụng thực tiễn của công trình nghiên cứu.