CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUYÊN TẮC HOẠT ĐỘNG CỦA KIỂM TOÁN ĐỘC LẬP 1. Những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm toán độc lập 1. Khái niệm kiểm toán độc lập Trên thế giới có tương đối nhiều quan điểm về khái niệm kiểm toán. Kiểm toán có gốc từ Latinh là: "Audit" gắn liền với nền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại xuất hiện vào thế kỷ thứ III trước công nguyên.
Auditing có nghĩa là "nghe", do các nhà cầm quyền La Mã tổ chức để kiểm tra độc lập về tình hình tài chính. Hình ảnh của kiểm toán cổ điển là việc kiểm tra về tài sản, phần lớn được thể hiện bằng cách người ghi chép đọc to lên cho một bên độc lập "nghe" rồi chấp nhận. Cho đến những năm 30 của thế kỷ XX, kiểm toán với nghĩa là kiểm tra độc lập và bày tỏ ý kiến mới được phát triển ở các Luận văn thạc sĩ Luật học nước Bắc Mỹ và Tây Âu [8, tr.5] Ở các nước Phương Tây, khái niệm kiểm toán đã bao hàm cả hình thức Kiểm toán độc lập. Tại Hoa Kỳ, "Kiểm toán là một quá trình mà qua đó một người độc lập, có nghiệp vụ tập hợp và đánh giá rõ ràng về một thông tin có thể lượng hoá có liên quan đến một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với những tiêu chuẩn đã được thiết lập” [5, tr.
Các nhà khoa học về kiểm toán Hoa Kỳ cũng khẳng định sự kiểm tra độc lập của kiểm toán viên, tuy nhiên nhấn mạnh hơn đến khía cạnh chuyên môn tức là các kiểm toán viên không chỉ độc lập mà phải “có nghiệp vụ”. Khái niệm của Hoa Kỳ cũng nhấn mạnh đến sự phù hợp giữa thông tin với các tiêu chuẩn đã được thiết lập. Còn các nhà kinh tế nước Pháp lại quan niệm rằng: "Kiểm toán là việc nghiên cứu và kiểm tra các tài khoản niên độ của một tổ chức do một người độc lập, đủ 6 danh nghĩa gọi là một kiểm toán viên tiến hành để khẳng định rằng những tài khoản đó phản ánh đúng tình hình tài chính thực tế không che dấu sự gian lận và chúng được trình bày theo mẫu chính thức của luật định” [5, tr. Ở Việt Nam, khái niệm kiểm toán ra đời tương đối muộn và được cụ thể hóa qua hai hình thức Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán độc lập.
Theo quy định tại khoản 1, Điều 5 Luật kiểm toán độc lập 2011, “Kiểm toán độc lập là việc kiểm toán viên hành nghề, doanh nghiệp kiểm toán, chi nhánh doanh nghiệp kiểm toán nước ngoài tại Việt Nam kiểm tra, đưa ra ý kiến độc lập của mình về báo cáo tài chính và công việc kiểm toán khác theo hợp đồng kiểm toán”. Kiểm toán là một quá trình chứ không phải là một hoạt động đơn lẻ; quá trình đó phản ánh hoạt động của các chuyên gia độc lập, có thẩm quyền, có kỹ năng nghiệp vụ; thông qua hoạt động kiểm toán, các chuyên gia có thể thu Luận thập, định lượng, văn đánh giá cácthạc sĩvềLuật thông tin chủ thểhọc kinh tế (so với chuẩn mực đã xác định) và có thể kiểm tra, kiểm soát được các hoạt động kinh tế. Kiểm toán độc lập là loại kiểm toán được tiến hành bởi các KTV thuộc các công ty, các văn phòng kiểm toán chuyên nghiệp. Quy định tại Luật Kiểm toán độc lập 2011 cho thấy quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động KTĐL là quan hệ mua bán dịch vụ, đơn vị kinh tế được kiểm toán trả phí dịch vụ cho các KTV theo thỏa thuận trong hợp đồng kiểm toán, được pháp luật thừa nhận và quản lý chặt chẽ.
Các KTV độc lập là những người hội tụ đủ các tiêu chuẩn theo chuẩn mực kiểm toán và các quy định pháp lý về hành nghề kiểm toán. Báo cáo kiểm toán được KTV đưa ra để thực hiện kiểm tra và xác nhận về sự trung thực, hợp lý của các bản báo cáo tài chính, làm cơ sở cho những người quan tâm đến doanh nghiệp có cơ sở thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình; cơ sở để doanh nghiệp thực hiện các nghĩa vụ đối với các cơ quan Nhà nước. 7 Hoạt động KTĐL là hoạt động kiểm toán rất phổ biến ở các nước có nền kinh tế phát triển, vì thế hoạt động kiểm toán nói chung thường được coi là hoạt động KTĐL. Trong hoạt động KTĐL thì kiểm toán BCTC là chủ yếu, theo đó đề cập đến KTĐL tức là kiểm toán độc lập BCTC.
Ý nghĩa của hoạt động kiểm toán độc lập Kiểm toán độc lập có ý nghĩa to lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế của đất nước. Thứ nhất, đối với doanh nghiệp nói chung, kiểm toán độc lập tạo niềm tin cho những người quan tâm đến kết quả hoạt động, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong hoạt động của mình. Dù hoạt động trong bất kì lĩnh vực kinh tế nào, thì kết quả hoạt động hàng năm của doanh nghiệp đều được thể hiện trên báo cáo tài chính (gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Luận văn thạc sĩ Luật học thuyết minh báo cáo tài chính).Vì nhiều nguyên nhân khác nhau, các chủ doanh nghiệp - người có trách nhiệm lập báo cáo tài chính đều muốn che giấu các phần yếu kém hoặc khuyếch trương kết quả kinh doanh của mình trên bảng báo cáo tài chính. Trái lại, những người quan tâm đến kết quả kinh doanh và tình hình tài chính của doanh nghiệp lại đòi hỏi sự trung thực chính xác của bản báo cáo tài chính đó.
Vì thế, cần có sự kiểm tra, xác nhận của người thứ ba. Doanh nghiệp kiểm toán độc lập nói chung hay kiểm toán viên độc lập nói riêng là những người hoạt động theo nguyên tắc của pháp luật, có đủ năng lực uy tín với cả chủ doanh nghiệp và người quan tâm đến bản báo cáo tài chính (các cơ quan Nhà nước, cơ quan thuế, ngân hàng, cơ quan chủ quản doanh nghiệp, các cổ đông, nhà đầu tư, nhân viên công ty) sẽ là những người thay mặt doanh nghiệp thực hiện những công việc trên và cuối cùng sẽ cho ra một kết quả chính xác nhất. 8 Hiện nay, Nhà nước ta đang chú trọng phát triển kinh tế, khuyến khích thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Chính vì thế, pháp luật Việt Nam, cụ thể là pháp luật về doanh nghiệp và pháp luật về đầu tư đang dần quy định theo chiều hướng có lợi cho các chủ thể kinh doanh.
Theo Điều 5, Luật Đầu tư 2014 quy định: “Nhà nước đối xử bình đẳng giữa các nhà đầu tư; có chính sách khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh, phát triển bền vững các ngành kinh tế”. Các nhà đầu tư nước ngoài khi thực hiện đầu tư vào Việt Nam luôn đòi hỏi một báo cáo tài chính được kiểm toán, xác nhận về tình hình kinh doanh của của doanh nghiệp mà họ dự định đầu tư. Những ý kiến, nhận xét của kiểm toán viên giúp cho nhà đầu tư nhìn nhận rõ ràng nhất tiềm năng phát triển của doanh nghiệp và có phương án đầu tư hợp lý. Bên cạnh đó, thông qua báo cáo tài chính, các nhà quản lý, chủ doanh nghiệp cũng có thể kịp thời phát hiện những sai sót, lãng phí, vi phạm pháp luật do cố ý hay vô ý để xử lý kịp thời nhằm ngăn Luận văn thạc sĩ Luật học ngừa các tổn thất, giúp doanh nghiệp hạn chế được rủi ro, kịp thời điều chỉnh các hoạt động kinh doanh, hoạt động quản lý và phát huy những thế mạnh, tiềm năng tài chính của doanh nghiệp.
Thứ hai, kiểm toán độc lập góp phần hướng dẫn nghiệp vụ, củng cố nề nếp hoạt động tài chính kế toán nói riêng và hoạt động của các tổ chức kinh tế nói chung. Mọi hoạt động, đặc biệt là hoạt động tài chính đều bao gồm những mối quan hệ đa dạng, luôn luôn biến đổi và được cấu thành bởi hàng loạt nghiệp vụ cụ thể. Để hướng các nghiệp vụ này vào mục tiêu giải quyết các quan hệ tài chính - kế toán, các nghiệp vụ phát sinh trong quá trình hạch toán thì không chỉ cần có định hướng đúng và thực hiện tốt mà cần thường xuyên kiểm tra, rà soát và tổ chức thực hiện tốt trên cơ sở những bài học thực tiễn sẽ dần khắc phục được những hạn chế trong quá trình thực hiện. Kinh nghiệm 9 thực tế cho chúng ta thấy rằng triển khai tốt hơn công tác kiểm toán mới có thể nhanh chóng đưa hệ thống tài chính kế toán - kiểm toán đi vào nề nếp.
Thứ ba, kiểm toán độc lập góp phần nâng cao hiệu quả và năng lực quản lý. Kiểm toán độc lập không chỉ có chức năng xác minh mà còn có chức năng tư vấn. Chủ doanh nghiệp không thể kiểm soát một khối lượng lớn nghiệp vụ tài chính kế toán đã xảy ra trong doanh nghiệp mà không có phương pháp khoa học. Chính vì thế, việc giao cho người phụ tá thân cận của mình phụ trách những vấn đề đó là điều thường thấy ở các doanh nghiệp Việt Nam.
Để biết được một cách chính xác, trung thực tình hình tài chính kế toán của mình vào kì hạn, người chủ doanh nghiệp thường mời các kiểm toán viên chuyên nghiệp độc lập có uy tín thực hiện việc kiểm tra và nhận xét bảng báo cáo tài chính của doanh nghiệp mình do người phụ trách kế toán lập ra. Luận Những nhận văn xét của thạc kiểm sĩ Luật toán viên sẽ giúphọc cho các chủ doanh nghiệp kịp thời phát hiện những sai sót, lãng phí hoặc vi phạm pháp luật do cố ý hay vô ý để xử lý kịp thời hay ngăn ngừa các tổn thất. Điều đó giúp doanh nghiệp hạn chế được những rủi ro hay phát hiện ra thế mạnh những tiềm năng tài chính nội tại của doanh nghiệp; giúp chủ doanh nghiệp kiểm soát tốt hơn hoạt động của doanh nghiệp mình trong năm tài chính. Vai trò của hoạt động kiểm toán độc lập Ngày nay, kiểm toán độc lập có một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường.
Điều đó được thể hiện thông qua các tổ chức kiểm toán độc lập ngày một phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, là phạm vi kiểm toán ngày càng được mở rộng trong mọi lĩnh vực như đầu tư, tài chính, xây dựng, thuế, tư vấn. Kiểm toán độc lập ra đời là một tất yếu khách quan và thiết thực đối với sự phát triển của kinh tế đất nước.