Tổng quan luận án
Tính cấp thiết của đề tài và khoảng trống nghiên cứu
Luận án tiến sĩ luật học "Nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng" của tác giả Trần Đức Hiếu (chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự, mã số 9380101.03, bảo vệ năm 2020 tại Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí) giải quyết một vấn đề cơ bản của khoa học luật tố tụng hình sự (TTHS) và thực tiễn cải cách tư pháp tại Việt Nam.
Xuất phát từ nguyên lý quyền lực nhà nước luôn tiềm ẩn xu hướng lạm quyền, hoạt động TTHS là lĩnh vực áp dụng quyền lực công có tác động trực tiếp, nghiêm trọng đến quyền con người, tự do cá nhân, danh dự và tài sản của công dân. Nguy cơ lạm quyền, vi phạm pháp luật nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm. Nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (THTT) lần đầu tiên được ghi nhận thành một nguyên tắc độc lập tại Điều 32 Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 2003 và tiếp tục được bổ sung, hoàn thiện tại Điều 33 BLTTHS năm 2015. Việc quy định nguyên tắc này thể chế hóa các định hướng lớn của Đảng:
- Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về việc: "Tăng cường giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, của các tổ chức xã hội và nhân dân đối với công tác tư pháp".
- Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/06/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020: "Hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và phát huy quyền làm chủ của nhân dân đối với hoạt động tư pháp", hướng tới mục tiêu xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, bảo vệ công lý.
Về mặt lý luận, trước thời điểm công trình được thực hiện, chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống và chuyên khảo về nguồn gốc, khái niệm, đặc điểm, nội dung, ý nghĩa cũng như mối quan hệ giữa nguyên tắc này với các nguyên tắc cơ bản khác của TTHS. Về mặt thực tiễn, việc tổ chức thực hiện nguyên tắc bộc lộ nhiều bất cập: hệ thống quy phạm cụ thể hóa nguyên tắc còn thiếu; chủ thể giám sát phân tán và chồng chéo (tính chung Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp có gần 15 loại cơ quan, thiết chế có thẩm quyền giám sát); địa vị pháp lý của Đoàn đại biểu Quốc hội còn chưa rõ ràng; một số công cụ giám sát theo luật định chưa được kích hoạt hiệu quả (như cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm, việc thành lập Ủy ban lâm thời của Quốc hội); cơ chế tiếp cận thông tin tố tụng của người dân còn hạn chế; đặc biệt là mâu thuẫn thực tiễn giữa việc tăng cường giám sát với việc bảo đảm tính độc lập xét xử của Tòa án.
Mục tiêu nghiên cứu
- Mục đích tổng quát: Làm sáng tỏ cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan THTT; từ đó xác lập luận cứ khoa học để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát, bảo đảm hoạt động giải quyết vụ án hình sự diễn ra khách quan, chính xác, dân chủ, nghiêm minh, bảo vệ công lý và quyền con người.
- Mục đích cụ thể:
- Hoàn thiện các quy định của pháp luật liên quan đến nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan THTT; đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc trong thực tiễn.
- Xử lý hài hòa mối quan hệ giữa tăng cường hiệu quả giám sát với việc bảo đảm quyền hạn của cơ quan THTT, bảo đảm nguyên tắc độc lập xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm và hiệu lực pháp lý của bản án.
Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm sáng tỏ khái niệm, nội dung, cơ sở, ý nghĩa và các yếu tố bảo đảm thực hiện nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan THTT; làm rõ mối quan hệ giữa nguyên tắc này với các nguyên tắc cơ bản khác trong TTHS.
- Khảo cứu, phân tích sự thể hiện của nguyên tắc giám sát trong mô hình TTHS của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra giá trị tham khảo cho Việt Nam.
- Nghiên cứu quá trình phát triển của các quy định pháp luật TTHS Việt Nam về nguyên tắc giám sát từ năm 1945 đến năm 2018.
- Thu thập, thống kê và phân tích thực trạng thi hành nguyên tắc giám sát giai đoạn 2003–2018, tập trung vào hoạt động của các chủ thể dân cử và tổ chức chính trị - xã hội đối với cơ quan THTT (trọng tâm là hoạt động xét xử của Tòa án).
- Xác định nguyên nhân của các hạn chế, vướng mắc, từ đó xây dựng định hướng và hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi nguyên tắc trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Câu hỏi nghiên cứu và Giả thuyết khoa học
Luận án giải quyết câu hỏi tổng quát: Cơ sở lý thuyết, ý nghĩa, đặc điểm, nội dung và các định hướng, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan THTT là gì? Câu hỏi tổng quát được cụ thể hóa thành 6 câu hỏi bộ phận:
- Câu hỏi 1: Nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử dựa trên nền tảng lý thuyết nào và tại sao trở thành nguyên tắc cơ bản của TTHS Việt Nam?
- Câu hỏi 2: Các đặc điểm pháp lý (chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, hệ quả) của nguyên tắc này được xác định như thế nào?
- Câu hỏi 3: Các yếu tố nào ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện nguyên tắc giám sát trong TTHS Việt Nam?
- Câu hỏi 4: Nguyên tắc giám sát trong TTHS được thể hiện như thế nào trong pháp luật của một số quốc gia và đem lại kinh nghiệm gì cho Việt Nam?
- Câu hỏi 5: Pháp luật TTHS Việt Nam quy định nguyên tắc này như thế nào từ năm 1945 đến nay và thực trạng áp dụng giai đoạn 2003–2018 diễn ra ra sao?
- Câu hỏi 6: Việc bảo đảm thực hiện nguyên tắc dựa trên những quan điểm chỉ đạo nào và cần triển khai hệ thống giải pháp gì trong thời gian tới?
Tương ứng với 6 câu hỏi, tác giả xác lập 6 giả thuyết khoa học:
- Giả thuyết 1: Nguyên tắc giám sát là nguyên tắc cơ bản, khách quan, xuất phát từ bản chất quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước theo Hiến pháp năm 2013.
- Giả thuyết 2: Đặc điểm của nguyên tắc được cấu thành từ hệ thống chủ thể đa tầng, đối tượng giám sát đặc thù, hình thức giám sát luật định và hệ quả pháp lý rõ ràng.
- Giả thuyết 3: Hiệu quả thực hiện nguyên tắc chịu sự chi phối của mô hình tổ chức quyền lực nhà nước, cơ chế giám sát, hệ thống pháp luật, mô hình tố tụng và mức độ minh bạch, tiếp cận thông tin.
- Giả thuyết 4: Các hệ thống pháp lý trên thế giới đều thiết lập cơ chế kiểm soát hoạt động tư pháp phù hợp với mô hình tố tụng của mình; việc khảo cứu sẽ đem lại những bài học lập pháp và thực tiễn hữu ích.
- Giả thuyết 5: Pháp luật TTHS Việt Nam ngày càng hoàn thiện việc ghi nhận nguyên tắc từ năm 1946 đến 2018; thực tiễn áp dụng đạt nhiều kết quả nhưng vẫn bộc lộ hạn chế cần khắc phục.
- Giả thuyết 6: Hoàn thiện cơ chế thực hiện nguyên tắc phải dựa trên quan điểm xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo vệ quyền con người, đẩy mạnh cải cách tư pháp và phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan THTT; các quy định pháp luật thực định của Việt Nam và thực tiễn thi hành.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Về chủ thể giám sát: Tập trung vào Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), Ủy ban Tư pháp của Quốc hội (UBTP), Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội; Hội đồng nhân dân (HĐND), Thường trực HĐND, Ban Pháp chế HĐND, đại biểu HĐND; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (MTTQVN).
- Về đối tượng giám sát: Hoạt động của Cơ quan Điều tra (CQĐT), Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND), Tòa án nhân dân (TAND), trong đó TAND là trung tâm và xét xử là trọng tâm.
- Về không gian và thời gian: Lịch sử lập pháp TTHS từ năm 1945 đến năm 2018; thực tiễn thực thi nguyên tắc trên lãnh thổ Việt Nam từ thời điểm thi hành BLTTHS năm 2003 đến năm 2018.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tác giả phân loại và đánh giá các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế theo các nhóm nội dung chuyên sâu:
| Nhóm tài liệu |
Tác giả & Công trình tiêu biểu |
Nội dung chính và giá trị tiếp thu |
| 1. Nghiên cứu về nguyên tắc giám sát trong TTHS |
- PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí (2008, 2011, 2018) - PGS.TS Nguyễn Ngọc Chí & Hà Thị Phương Bắc (2017) - GS.TS Lê Văn Cảm (2013) - TS. Hoàng Thị Sơn & Bùi Kiên Điện |
- Luận giải tính tất yếu của giám sát trong TTHS để chống lạm quyền; - Khái quát cơ chế, nội dung và các nguyên tắc cơ bản của TTHS; - Nêu đặc điểm giám sát của cơ quan dân cử ở trung ương và địa phương. |
| 2. Nghiên cứu về quyền tư pháp và kiểm soát quyền tư pháp |
- TS. Nguyễn Đăng Dung chủ biên (2004) - Nhóm tác giả Khoa Luật - ĐHQGHN (2004) - Đề tài KX.06 (Chủ nhiệm: Uông Chu Lưu, 2004) - Hội thảo Liêm chính tư pháp (2014) - Luận án TS Nguyễn Chí Dũng (2009) - Luận án TS Nguyễn Huy Phượng (2012) |
- Khái niệm quyền tư pháp, mối quan hệ giữa độc lập tư pháp và liêm chính tư pháp; - Phân tích trách nhiệm giải trình của Thẩm phán; - Cơ chế giám sát xã hội và kiểm soát việc thực thi quyền tư pháp. |
| 3. Nghiên cứu về quyền lực nhà nước và kiểm soát quyền lực |
- GS. Đào Trí Úc & PGS. Võ Khánh Vinh (2003) - GS.TSKH Đào Trí Úc (2009) - GS.TS Nguyễn Đăng Dung (2011, 2015) - GS.TS Trần Ngọc Đường (2011) - TS. Nguyễn Sĩ Dũng (2004, 2015) - TS. Trịnh Thị Xuyến (2008) - Luận án TS Trương Thị Hồng Hà (2009) - Đề tài cấp Bộ (PGS.TS Phạm Hữu Nghị, 2009-2010) - TS. Trần Ngọc Tuệ (2009) |
- Luận điểm "ở đâu có quyền lực nhà nước, ở đó cần có giám sát"; - Cơ chế giám sát bên trong và bên ngoài hệ thống quyền lực; - Bản chất chức năng giám sát tối cao của Quốc hội; - Sự hạn chế quyền lực nhà nước bằng Hiến pháp. |
| 4. Nghiên cứu về mô hình tố tụng hình sự |
- Luận án TS Nguyễn Thị Thủy (2014) - GS.TSKH Đào Trí Úc (2011) |
- Mối quan hệ giữa mô hình TTHS với việc áp dụng nguyên tắc tranh tụng; - Khẳng định nguyên tắc TTHS có trước mô hình và pháp luật thực định, mang tính định hướng cấu trúc tố tụng. |
| 5. Tài liệu thực tiễn hoạt động giám sát |
- Báo cáo công tác của Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC (2003–2018) - Báo cáo giám sát, thẩm tra của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội |
- Cung cấp cơ sở dữ liệu thực chứng về kết quả xem xét báo cáo, chất vấn, giám sát chuyên đề và giải quyết đơn thư khiếu nại tư pháp. |
| 6. Nghiên cứu quốc tế |
- Rahmati (2018, Amazonia Investiga) - Potter Stewart (Yale Law School, 2004) - Các báo cáo của ĐH Sydney cho UNDP (Simon Butt, Byung-Sun Cho, Tom Ginsburg, Vivienne Bath, Sarah Biddulph, 2010) - T. Strasberg-Cohen (2005, Law and Business) |
- Giám sát TTHS như một thành tố của quyền xét xử công bằng (fair trial); - Giới hạn giám sát của cơ quan lập pháp đối với các vụ án cụ thể (bảo đảm độc lập xét xử); - Cơ chế Thanh tra tư pháp (Ombudsman for Complaints against Judges Law) tại Hoa Kỳ và kinh nghiệm các nước châu Á (Trung Quốc, Hàn Quốc, Indonesia, Nga). |
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan tình hình nghiên cứu cho thấy các công trình trước đây mới chỉ tiếp cận vấn đề ở từng khía cạnh riêng lẻ (như tiếp cận từ góc độ lý luận kiểm soát quyền lực chung, chức năng giám sát của Quốc hội, hoặc nguyên tắc tranh tụng). Luận án của tác giả Trần Đức Hiếu là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu có hệ thống, đa chiều và toàn diện về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với cơ quan THTT trong TTHS; trực tiếp xây dựng định nghĩa khoa học, phân tích cấu trúc 3 lớp giám sát, làm rõ mối quan hệ với các nguyên tắc tố tụng khác, đánh giá thực trạng áp dụng giai đoạn 2003–2018 và đề xuất 9 nhóm giải pháp đồng bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Hệ tư tưởng và quan điểm chỉ đạo: Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; các Nghị quyết Đại hội Đảng và Nghị quyết về cải cách tư pháp (Nghị quyết 08-NQ/TW, Nghị quyết 49-NQ/TW).
- Hệ thống lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết về kiểm soát quyền lực nhà nước (phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực theo Hiến pháp năm 2013).
- Lý thuyết về quyền tư pháp và độc lập tư pháp trong Nhà nước pháp quyền.
- Lý thuyết về quyền con người và quyền được xét xử công bằng (the right to fair trial).
- Lý thuyết về mô hình tố tụng hình sự (thẩm vấn, tranh tụng và mô hình kết hợp).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành:
- Phương pháp quy nạp và diễn dịch: Sử dụng tại Chương 1 và Chương 2 để phân tích các quan niệm khoa học, luận giải nguồn gốc, sự hình thành và xây dựng khái niệm nguyên tắc giám sát.
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt các chương để mổ xẻ các quy phạm pháp luật, cấu trúc các lớp giám sát, đánh giá hệ thống lý luận và thực tiễn thi hành.
- Phương pháp lịch sử và so sánh luật học: Sử dụng tại Chương 2 và Chương 3 để khảo cứu sự tiến triển của pháp luật Việt Nam qua các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2013) và các BLTTHS; so sánh đối chiếu với kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Trung Quốc và Liên bang Nga.
- Phương pháp xã hội học pháp lý và thống kê, tổng kết thực tiễn: Sử dụng tại Chương 3 và Chương 4 để thu thập, phân tích số liệu hoạt động giám sát, các báo cáo công tác tư pháp, báo cáo thẩm tra của Quốc hội giai đoạn 2003–2018 nhằm chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân thực tế.
- Tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức khoa học luật tố tụng hình sự, luật hiến pháp, lý luận nhà nước và pháp luật, triết học và chính trị học.
Nguồn tư liệu và dữ liệu
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam: Các bản Hiến pháp, BLTTHS năm 2003, BLTTHS năm 2015, Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Dữ liệu báo cáo thực tế: Báo cáo công tác của Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; các báo cáo giám sát chuyên đề và báo cáo thẩm tra của Ủy ban Tư pháp của Quốc hội; báo cáo hoạt động giám sát của HĐND một số địa phương (2003–2018).
- Văn bản pháp lý và án lệ quốc tế từ các tài liệu tham khảo nước ngoài.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học trong và ngoài nước thành 7 nhóm nghiên cứu chuyên đề. Tác giả chỉ ra rằng xu hướng nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ nghiên cứu quyền lực nhà nước nói chung hoặc phân tích quyền tư pháp ở mức độ khái quát. Luận án đã xác lập tính cần thiết của đề tài thông qua việc chỉ ra 3 nhóm vấn đề lý luận và thực tiễn còn bỏ ngỏ: thiếu vắng khái niệm chuẩn mực về nguyên tắc giám sát trong TTHS; chưa luận giải thấu đáo mối quan hệ tương hỗ giữa giám sát và độc lập tư pháp; thiếu các đánh giá toàn diện về thực trạng thi hành các hình thức giám sát từ 2003 đến 2018. Trên cơ sở đó, chương này định hình hệ thống 6 câu hỏi nghiên cứu và 6 giả thuyết khoa học làm kim chỉ nam cho toàn bộ công trình.
Chương 2. Những vấn đề lý luận về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự
Chương 2 tập trung giải quyết các vấn đề bản chất lý luận của nguyên tắc:
-
Định vị nguyên tắc: Nguyên tắc giám sát là phương châm, định hướng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các giai đoạn TTHS (từ khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử đến thi hành án), chi phối hoạt động lập pháp và áp dụng pháp luật nhằm giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không bỏ lọt tội phạm.
-
Cấu trúc 3 lớp cơ chế giám sát:
- Lớp 1 - Giám sát bên trong hệ thống cơ quan THTT: Kiểm soát nội bộ ngành và kiểm soát giữa các cơ quan THTT (CQĐT, VKSND, TAND), trong đó VKSND giữ vai trò thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp.
- Lớp 2 - Giám sát bên ngoài mang tính quyền lực nhà nước: Hoạt động giám sát của các cơ quan dân cử (Quốc hội, UBTVQH, UBTP, HĐND, Ban Pháp chế) và đại biểu dân cử (ĐBQH, Đại biểu HĐND).
- Lớp 3 - Giám sát xã hội: Hoạt động giám sát của MTTQVN, các tổ chức thành viên, cơ quan báo chí và công dân.
-
Mối quan hệ với các nguyên tắc TTHS khác:
- Với nguyên tắc bảo đảm pháp chế: Giám sát là công cụ bảo đảm pháp chế được tuân thủ nghiêm chỉnh, ngăn ngừa sự tùy tiện.
- Với nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo: Giám sát tiếp nhận và đôn đốc giải quyết khiếu nại, tố cáo, bảo vệ quyền lợi của công dân trước các hành vi tố tụng sai trái.
- Với nguyên tắc suy đoán vô tội: Giám sát bảo đảm các cơ quan THTT không định kiến có tội, tuân thủ nghĩa vụ chứng minh theo luật định.
- Với nguyên tắc tranh tụng: Giám sát bảo đảm bình đẳng vũ khí giữa bên buộc tội và bên gỡ tội tại phiên tòa, ngăn chặn việc áp đặt chủ quan của cơ quan công tố và xét xử.
-
Kinh nghiệm quốc tế:
- Hoa Kỳ và Vương quốc Anh: Phân quyền nghiêm ngặt, kiểm soát hoạt động tư pháp chủ yếu thông qua thủ tục tư pháp công khai, bồi thẩm đoàn, trách nhiệm giải trình và thiết chế Thanh tra tư pháp (Ombudsman), tuyệt đối không cho phép cơ quan lập pháp can thiệp, xem xét lại bản án cụ thể của Tòa án.
- Trung Quốc và Liên bang Nga: Mô hình tập quyền xã hội chủ nghĩa hoặc bán tổng thống, trao quyền giám sát tư pháp lớn cho cơ quan lập pháp (Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc) và Viện kiểm sát/Viện công tố, đồng thời chú trọng cơ chế giám sát theo chuyên đề và giám sát việc giải quyết khiếu kiện tư pháp.
Chương 3. Pháp luật về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng và thực trạng hoạt động giám sát tố tụng hình sự ở Việt Nam
Chương 3 kết hợp phân tích lập pháp lịch sử với đánh giá số liệu thực chứng giai đoạn 2003–2018:
- Lịch sử lập pháp (1946–2018): Từ Hiến pháp năm 1946, quyền giám sát của cơ quan dân cử đối với cơ quan tư pháp đã được hình thành sơ khai qua chế định chất vấn. Qua các bản Hiến pháp 1959, 1980, 1992 và 2013, cơ chế giám sát ngày càng được định hình rõ nét, chuyển từ cơ chế kiểm tra hành chính sang cơ chế kiểm soát quyền lực tư pháp luật định, đỉnh cao là Điều 32 BLTTHS 2003 và Điều 33 BLTTHS 2015.
- Thực trạng triển khai các hình thức giám sát (2003–2018):
- Xem xét báo cáo công tác: Quốc hội và HĐND định kỳ thảo luận báo cáo của Chánh án TAND, Viện trưởng VKSND. Hình thức này đạt hiệu quả đánh giá tổng thể nhưng việc thảo luận tại kỳ họp còn mang tính hình thức, thời lượng dành cho lĩnh vực tư pháp còn ít.
- Giám sát ban hành văn bản quy phạm pháp luật: Đã phát hiện và chấn chỉnh một số thông tư liên tịch, văn bản hướng dẫn áp dụng pháp luật hình sự có dấu hiệu mâu thuẫn với luật hoặc làm hạn chế quyền tố tụng của đương sự.
- Chất vấn và trả lời chất vấn: Phiên chất vấn người đứng đầu ngành Tòa án, Kiểm sát tại Quốc hội và UBTVQH diễn ra sôi nổi, tập trung vào các vụ án đình đám, án oan sai, án đình chỉ không đúng pháp luật.
- Giám sát chuyên đề: Các chuyên đề của UBTP về việc chấp hành pháp luật trong điều tra, bắt, tạm giữ, tạm giam, thi hành án hình sự đã chỉ ra nhiều vi phạm nghiêm trọng và thúc đẩy sửa đổi pháp luật.
- Giám sát giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo: ĐBQH và Đoàn ĐBQH đã chuyển hàng nghìn đơn thư khiếu nại tư pháp đến các cơ quan có thẩm quyền; tuy nhiên, tỷ lệ cơ quan THTT phản hồi, giải quyết dứt điểm và báo cáo lại còn thấp.
- Đánh giá hạn chế và nguyên nhân: Các quy định pháp luật về trình tự, thủ tục thực hiện quyền giám sát của ĐBQH và đại biểu HĐND còn thiếu cụ thể; chưa có chế tài xử lý trách nhiệm đối với cơ quan THTT chậm trễ thực hiện yêu cầu sau giám sát; quyền tiếp cận hồ sơ, chứng cứ tố tụng của chủ thể giám sát chưa rõ ràng; nguy cơ ranh giới mờ nhạt giữa hoạt động giám sát hợp pháp với việc can thiệp trái pháp luật vào hoạt động xét xử độc lập của Thẩm phán.
Chương 4. Các giải pháp bảo đảm thực hiện nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam
Chương 4 xác lập 3 yêu cầu nền tảng: (1) Yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; (2) Yêu cầu bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp 2013; (3) Yêu cầu đẩy mạnh chiến lược cải cách tư pháp. Tác giả luận chứng hệ thống 9 nhóm giải pháp:
| STT |
Nhóm giải pháp |
Nội dung triển khai cụ thể theo luận án |
| 1 |
Nâng cao chất lượng thảo luận, xem xét báo cáo tư pháp |
Tăng thời lượng thảo luận báo cáo của TANDTC, VKSNDTC tại các kỳ họp Quốc hội; xây dựng hệ thống tiêu chí định lượng đánh giá chất lượng xét xử độc lập; ra nghị quyết chuyên đề sâu về tư pháp sau khi thảo luận. |
| 2 |
Tăng cường giám sát ban hành văn bản QPPL tư pháp |
Hoàn thiện quy trình kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật của TANDTC, VKSNDTC và văn bản liên tịch; kiên quyết hủy bỏ, sửa đổi các hướng dẫn trái với quy định của Bộ luật Hình sự và BLTTHS. |
| 3 |
Nâng cao hiệu quả chất vấn người đứng đầu cơ quan tư pháp |
Quy định rõ trách nhiệm giải trình của Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC; theo dõi đến cùng việc thực hiện các lời hứa và cam kết sau chất vấn thông qua nghị quyết chất vấn của Quốc hội. |
| 4 |
Nâng cao chất lượng giám sát chuyên đề |
Lựa chọn các chuyên đề trọng điểm (như oan sai, bức cung, dùng nhục hình, án hủy/sửa); tăng cường khảo sát thực địa tại các trại tạm giam, CQĐT địa phương; nâng cao tính ràng buộc pháp lý của kết luận sau giám sát. |
| 5 |
Hoàn thiện cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm |
Chuẩn hóa quy trình lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, HĐND bầu hoặc phê chuẩn trong ngành Tòa án, Kiểm sát; sử dụng kết quả bỏ phiếu tín nhiệm làm căn cứ miễn nhiệm, cách chức thực chất. |
| 6 |
Tăng cường vai trò của UBTVQH |
UBTVQH giữ vai trò điều phối, phân công khoa học, tránh chồng chéo các đoàn giám sát giữa UBTP, các Ủy ban khác của Quốc hội và Đoàn ĐBQH tại địa phương; ban hành quy chế giám sát tư pháp thống nhất. |
| 7 |
Hoàn thiện cơ chế giám sát tố tụng và phân định ranh giới |
Ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể Điều 33 BLTTHS năm 2015; quy định rõ giới hạn chủ thể giám sát không được can thiệp vào quá trình nghị án, đánh giá chứng cứ của Hội đồng xét xử; bảo đảm độc lập tư pháp. |
| 8 |
Tăng cường liêm chính tư pháp và công khai thông tin |
Thực hiện công khai, minh bạch bản án, quyết định tố tụng trên cổng thông tin điện tử; mở rộng quyền tiếp cận thông tin vụ án cho các tổ chức xã hội, báo chí và công dân để thực hiện giám sát xã hội. |
| 9 |
Nâng cao hiệu quả giám sát giải quyết khiếu nại, tố cáo |
Xây dựng quy chế phối hợp và chế tài buộc cơ quan THTT phải trả lời văn bản chuyển đơn của ĐBQH, Đoàn ĐBQH và MTTQVN đúng thời hạn; thiết lập cơ chế phúc tra việc giải quyết khiếu nại tố cáo phức tạp, kéo dài. |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan THTT trong khoa học luật TTHS Việt Nam.
- Xây dựng định nghĩa khoa học chuẩn xác về nguyên tắc giám sát trong TTHS; phân tích toàn diện 5 yếu tố cấu thành đặc điểm nguyên tắc (chủ thể, đối tượng, nội dung, hình thức, hệ quả pháp lý).
- Luận giải sâu sắc tính tất yếu khách quan của việc giám sát quyền lực nhà nước trong TTHS; xác lập mô hình 3 lớp cơ chế giám sát (kiểm soát nội bộ/kiểm sát tư pháp, giám sát quyền lực nhà nước của cơ quan dân cử, giám sát xã hội).
- Phân tích sáng tỏ mối quan hệ biện chứng giữa nguyên tắc giám sát với các nguyên tắc trụ cột khác của TTHS (pháp chế, bảo đảm quyền khiếu nại tố cáo, suy đoán vô tội, tranh tụng); chứng minh việc tăng cường giám sát không đối lập mà là điều kiện bảo đảm tính độc lập tư pháp và sự nghiêm minh của pháp luật.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn và lập pháp
- Khảo cứu và đánh giá bức tranh lập pháp lịch sử từ 1945 đến 2018; phân tích toàn diện thực trạng thi hành các hình thức giám sát đối với cơ quan THTT giai đoạn 2003–2018 qua số liệu thực chứng của các cơ quan trung ương và địa phương.
- Chỉ ra các "điểm nghẽn" thực tế: sự chồng chéo giữa gần 15 loại chủ thể có thẩm quyền giám sát; khoảng trống pháp lý về trình tự giám sát tư pháp của Đoàn ĐBQH và HĐND cấp tỉnh; sự thiếu vắng chế tài đối với việc không thực hiện kiến nghị giám sát; tình trạng chậm giải quyết đơn thư khiếu nại tư pháp.
- Đề xuất hệ thống 9 nhóm giải pháp hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực giám sát có giá trị ứng dụng cao cho Quốc hội, UBTVQH, HĐND và các cơ quan tư pháp trong tiến trình cải cách tư pháp hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Do giới hạn về phạm vi và thời điểm nghiên cứu (hoàn thành năm 2018), luận án chủ yếu tổng kết số liệu thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003 và giai đoạn đầu triển khai BLTTHS năm 2015; chưa đánh giá được toàn diện thực tiễn áp dụng các quy định mới của BLTTHS năm 2015 trong giai đoạn sau năm 2018.
- Luận án tập trung chuyên sâu vào chủ thể giám sát là cơ quan dân cử (Quốc hội, HĐND) và MTTQVN đối với các cơ quan THTT trong TTHS; chưa dành dung lượng lớn để nghiên cứu sâu các thiết chế giám sát xã hội khác như cơ quan báo chí, truyền thông độc lập hoặc cơ chế thanh tra nội bộ của ngành hành pháp.
- Việc so sánh quốc tế tập trung vào 4 quốc gia đại diện cho hai hệ thống pháp luật lớn (Hoa Kỳ, Anh thuộc Thông luật; Nga, Trung Quốc thuộc Dân luật/XHCN), chưa mở rộng khảo sát các mô hình hội đồng tư pháp quốc gia ở các nước Tây Âu (như Pháp, Đức).
Hướng nghiên cứu tiếp theo
- Nghiên cứu, tổng kết thực tiễn thi hành Điều 33 BLTTHS năm 2015 và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân năm 2015 trong giai đoạn chuyển đổi số, công khai hóa bản án điện tử hiện nay.
- Nghiên cứu cơ chế kiểm soát chéo giữa các cơ quan tư pháp trong mô hình tố tụng kết hợp tăng cường tranh tụng.
- Đi sâu nghiên cứu cơ chế giám sát xã hội của báo chí và công dân trên không gian mạng đối với hoạt động xét xử vụ án hình sự nhằm bảo đảm quyền tiếp cận công lý.
Giá trị tham khảo
Đối tượng thụ hưởng
- Cơ quan lập pháp và cơ quan dân cử: Là tài liệu tham khảo trực tiếp cho Quốc hội, UBTVQH, Ủy ban Tư pháp, Ban Pháp chế HĐND các cấp và các đại biểu dân cử trong việc đổi mới phương thức giám sát tư pháp, xây dựng luật và nghị quyết chuyên đề.
- Cơ quan tiến hành tố tụng: Giúp CQĐT, VKSND, TAND các cấp nhận thức đúng đắn về trách nhiệm giải trình, nghĩa vụ chấp hành giám sát và cách thức bảo đảm độc lập xét xử đúng luật.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học: Cung cấp nguồn tài liệu học thuật chuyên khảo giá trị cho giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Luật hình sự, Tố tụng hình sự, Luật Hiến pháp và Lý luận Nhà nước và Pháp luật.
Các phần nội dung đáng tham khảo nhất
- Chương 2: Khung lý luận về 3 lớp cơ chế giám sát, mối quan hệ giữa giám sát và nguyên tắc tranh tụng, suy đoán vô tội; các bài học kinh nghiệm về thiết chế Thanh tra Thẩm phán (Ombudsman) của Hoa Kỳ và phân định ranh giới giám sát tại Trung Quốc.
- Chương 3: Hệ thống số liệu và đánh giá thực chứng về 5 hình thức giám sát thực tế tại Việt Nam giai đoạn 2003–2018.
- Chương 4: Hệ thống 9 nhóm giải pháp kỹ thuật lập pháp và quy trình tổ chức thực hiện việc giám sát tư pháp của cơ quan dân cử.
Câu hỏi thường gặp
1. Nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử được quy định tại các điều luật nào trong các Bộ luật Tố tụng hình sự của Việt Nam?
Nguyên tắc này lần đầu tiên được ghi nhận thành một điều luật độc lập tại Điều 32 BLTTHS năm 2003 và tiếp tục được kế thừa, sửa đổi, bổ sung hoàn thiện tại Điều 33 BLTTHS năm 2015. Điều luật quy định cơ quan dân cử (Quốc hội, HĐND), đại biểu dân cử (ĐBQH, đại biểu HĐND), Ủy ban MTTQVN và các tổ chức thành viên có quyền giám sát hoạt động của cơ quan, người THTT; cơ quan, người THTT có trách nhiệm xem xét, giải quyết và trả lời theo quy định của pháp luật.
2. Luận án phân chia cơ chế giám sát hoạt động tố tụng hình sự thành những lớp chủ thể nào?
Luận án thiết kế mô hình giám sát hoạt động TTHS thành 3 lớp chủ thể:
- Lớp bên trong hệ thống TTHS: Tự kiểm tra, kiểm soát nội bộ ngành và kiểm sát hoạt động tư pháp của VKSND đối với CQĐT, TAND.
- Lớp bên ngoài hệ thống mang tính quyền lực nhà nước: Hoạt động giám sát của Quốc hội, UBTVQH, UBTP, Đoàn ĐBQH, ĐBQH, HĐND, Thường trực HĐND, Ban Pháp chế, đại biểu HĐND.
- Lớp ngoài cùng (giám sát xã hội): Hoạt động giám sát của MTTQVN, các tổ chức thành viên và công dân.
3. Hoạt động giám sát của cơ quan dân cử có làm mất đi tính độc lập xét xử của Tòa án hay không?
Theo luận án, hoạt động giám sát hợp pháp không làm mất đi tính độc lập xét xử mà là cơ chế bảo đảm cho độc lập xét xử được thực thi đúng pháp luật. Tuy nhiên, luận án nhấn mạnh giới hạn pháp lý: chủ thể giám sát chỉ giám sát việc tuân theo pháp luật về mặt thủ tục và thẩm quyền, không được can thiệp trực tiếp vào việc đánh giá chứng cứ, không được chỉ đạo Hội đồng xét xử phải ra bản án theo hướng cụ thể khi vụ án đang trong quá trình xét xử.
4. Thực trạng chủ thể giám sát ở Việt Nam có những bất cập lớn nào được tác giả trích dẫn số liệu?
Theo trích dẫn nghiên cứu của TS. Nguyễn Sĩ Dũng (2015) trong luận án:
- Tính chung cả Quốc hội và HĐND các cấp, có gần 15 loại cơ quan/thiết chế có thẩm quyền tiến hành giám sát từ trung ương đến cấp xã, dẫn đến tình trạng trùng lặp, phân tán và chồng chéo đối tượng giám sát.
- Vướng mắc về địa vị pháp lý của Đoàn ĐBQH khi chưa có quy định xác định rõ tư cách giám sát độc lập ngang bằng với các cơ quan khác của Quốc hội.
- Một số hình thức giám sát luật định chưa từng hoặc hiếm khi được triển khai trên thực tế, như Quốc hội chưa từng thành lập Ủy ban lâm thời để điều tra vụ việc cụ thể và cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm đối với chức danh tư pháp chưa được thực hiện thường xuyên.
5. Luận án đề xuất những giải pháp trọng tâm nào để bảo đảm thực hiện nguyên tắc giám sát?
Luận án đề xuất 9 nhóm giải pháp mang tính hệ thống tại Chương 4, trọng tâm gồm: (1) Nâng cao chất lượng thảo luận báo cáo tư pháp tại Quốc hội; (2) Tăng cường giám sát văn bản QPPL tư pháp; (3) Nâng cao hiệu quả chất vấn người đứng đầu cơ quan tư pháp; (4) Đổi mới giám sát chuyên đề; (5) Chuẩn hóa quy trình bỏ phiếu tín nhiệm; (6) Tăng cường vai trò điều phối của UBTVQH; (7) Hoàn thiện quy chế giám sát TTHS gắn liền với bảo vệ độc lập tư pháp; (8) Tăng cường liêm chính tư pháp và công khai bản án; (9) Thiết lập chế tài bắt buộc giải quyết dứt điểm đơn thư khiếu nại do đại biểu dân cử chuyển đến.
Kết luận
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Trần Đức Hiếu là công trình nghiên cứu chuyên sâu, có giá trị học thuật và thực tiễn cao về nguyên tắc giám sát của cơ quan, tổ chức, đại biểu dân cử đối với hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng trong tố tụng hình sự Việt Nam. Tác giả đã làm sáng tỏ cơ sở lý luận, bản chất 3 lớp của cơ chế giám sát và giải quyết thấu đáo mối quan hệ tương hỗ giữa kiểm soát quyền lực tư pháp với nguyên tắc độc lập xét xử. Thông qua việc phân tích toàn diện thực trạng thi hành pháp luật giai đoạn 2003–2018 cùng các bài học kinh nghiệm quốc tế, luận án đã xây dựng hệ thống 9 nhóm giải pháp đồng bộ nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực giám sát, bảo vệ công lý và quyền con người trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.