CHƯƠNG 1 Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong TTDS là nguyên tắc trọng tâm, quan trọng của tố tụng được hầu hết các nước trên thế giới thừa nhận. Chủ thể thực hiện các quyền tố tụng nhằm bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình là các đương sự, người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và tòa án là cơ quan bảo đảm cho quá trình thực hiện quyền tố tụng đó của đương sự. Nguyên tắc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự là cơ sở để Tòa án xác định phương hướng tiến hành tố tụng, là điều kiện quan trọng để đương sự bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước Tòa án, là phương tiện quan trọng để Tòa án nhận biết được sự thật vụ án, giải quyết vụ án công minh, có căn cứ và hợp pháp. Dù có vị trí vô cùng quan trọng nhưng nguyên tắc này không tồn tại một cách độc lập, riêng lẻ mà có mối liên hệ mật thiết với các nguyên tắc khác như nguyên tắc quyền tự định đoạt của đương sự, nguyên tắc bảo đảm quyền tranh tụng, nguyên tắc bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong TTDS.
15 CHƯƠNG 2 NỘI DUNG NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ QUYỀN VÀ LỢI ÍCH HỢP PHÁP CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ 2. Bảo đảm quyền tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trước Tòa án – Quyền tố tụng của đương sự 2. Bảo đảm quyền khởi kiện, thay đổi bổ sung yêu cầu, phản tố yêu cầu, yêu cầu độc lập của đương sự 2. Bảo đảm quyền khởi kiện của đương sự Quyền khởi kiện là quyền cơ bản của công dân và được Nhà nước bảo đảm thực hiện thông qua các cơ chế pháp lý của Nhà nước nhằm khởi động quá trình TTDS tại Tòa án.
Nói cách khác, việc thực hiện quyền khởi kiện là bước đầu quan trọng để Tòa án tiến hành các thủ tục tố tụng tiếp theo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các đương sự. Chính bởi vậy, việc xác định chính xác chủ thể có quyền khởi kiện là một vấn đề quan trọng được đặt ra nhằm đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án dân sự đạt được hiệu quả, đảm bảo pháp luật thực hiện tốt công việc điều tiết xã hội, bảo vệ triệt để quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia quan hệ TTDS. 9 Quyền khởi kiện vụ án dân sự được quy định tại Điều 14 BLDS 2015, nguyên tắc tại Điều 4 BLTTDS 2015 và được cụ thể hóa tại Điều 69, Điều 186, Điều 187 BLTTDS 2015. Việc thực hiện quyền khởi kiện trong từng quan hệ dân sự cụ thể có mục đích khác nhau.
Về cơ bản đương sự khởi kiện vụ án dân sự nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của mình. Thông thường, quyền khởi kiện của cá nhân được xuất hiện khi cá nhân sinh ra và mất đi khi cá nhân chết. Quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức xuất hiện khi cơ quan, tổ chức được thành lập và mất đi khi cơ quan, tổ chức đó chấm dứt hoạt động. - Về chủ thể: Điều 186 BLTTDS 2015 quy định về quyền khởi kiện vụ án dân sự như sau: “Cơ quan tổ chức, cá nhân có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp khởi kiện vụ án (sau đây gọi chung là người khởi kiện) tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ 9 Lê Thị Thu Thủy (2017), Quyền khởi kiện và bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015: luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr.32 16 quyền và lợi ích hợp pháp của mình”.
Theo quy định này, chủ thể có quyền khởi kiện được hiểu là chủ thể của quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động có tranh chấp và chủ thể có quyền đại diện thực hiện quyền khởi kiện vụ án dân sự. Tiếp theo đó, Bộ luật này đã cụ thể hóa hơn chủ thể có quyền khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, đồng thời quy định quyền khởi kiện của cơ quan, tổ chức vì lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước tại Điều 187. Có thể chia chủ thể có quyền VADS ra làm 2 nhóm: Nhóm 1: Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự là nguyên đơn có quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 68 BLTTDS 2015, nguyên đơn trong vụ án dân sự được xác định là người khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.
Như vậy, nguyên đơn trong vụ án dân sự có thể là người trực tiếp thực hiện quyền khởi kiện hoặc là người được chủ thể khác theo quy định pháp luật khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đó có thể là những cá nhân, cơ quan, tổ chức là chủ thể của một quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thương mại, lao động thông qua việc gửi đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính mình khi phát hiện có sự xâm phạm hay tranh chấp với các chủ thể khác. Nhóm 2: Chủ thể khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích của Nhà nước. Bên cạnh chủ thể khởi kiện là nguyên đơn – những người có quyền và lợi ích hợp pháp trực tiếp bị xâm phạm, pháp luật còn quy định một số chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác.
Đó là chủ thể khởi kiện với tư cách là người đại diện theo pháp luật hay theo ủy quyền của đương sự. Trong một số trường hợp để bảo đảm quyền khởi kiện của người yếu thế, BLTTDS 2015 đã quy định một số chủ thể có quyền khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Theo quy định tại Điều 187 BLTTDS 2015 thì các chủ thể khởi kiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác bao gồm: Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án về hôn nhân và gia đình theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình; tổ chức đại diện tập thể lao động 17 có quyền khởi kiện vụ án lao động trong trường hợp cần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể người lao động hoặc khi được người lao động ủy quyền theo quy định của pháp luật; tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách hoặc theo quy định của pháp luật; cá nhân có quyền khởi kiện vụ án hôn nhân và gia đình để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người khác theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. - Thời hiệu khởi kiện: BLTTDS 2015 có sự thay đổi cơ bản về quy định thời hiệu khởi kiện vụ án dân sự so với BLTTDS năm 2004, sửa đổi năm 2011, cụ thể định nghĩa về thời hiệu khởi kiện vụ án không còn được giữ lại mà dẫn chiếu đến quy định tại BLDS 2015: “Thời hạn khởi kiện vụ án dân sự là thời hạn mà chủ thể được quyền khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm; nếu thời hạn đó kết thúc thì mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác”.
Điều 184 BLTTDS 2015 quy định: “Tòa án chỉ áp dụng quy định về thời hiệu theo yêu cầu của một bên hoặc các bên với điều kiện yêu cầu này phải đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc. Người được hưởng lợi từ việc áp dụng thời hiệu có quyền từ chối áp dụng thời hiệu, trừ trường hợp với việc từ chối đó nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ”. Đây được coi là một sự thay đổi lớn trong quan điểm lập pháp của Việt Nam, theo đó, thời hiệu khởi kiện không còn do Tòa án mặc nhiên áp dụng để làm căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự như trước mà việc áp dụng thời hiệu khởi kiện là do các bên đương sự viện dẫn. Tuy nhiên, để đảm bảo quyền và lợi ích của các bên khi tham gia tố tụng, pháp luật đã đưa ra hai điều kiện về áp dụng thời hiệu khởi kiện: (i) Một bên hoặc các bên yêu cầu áp dụng thời hiệu khởi kiện; (ii) Yêu cầu này phải được đưa ra trước khi Tòa án cấp sơ thẩm ra bản án, quyết định giải quyết vụ việc.
BLTTDS 2015 đã tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong việc cho phép một hoặc các bên được quyền yêu cầu áp dụng thời 18 hiệu thời kiện và loại bỏ quy định về việc Tòa án tự mình được lấy căn cứ thời hiệu khởi kiện đã hết để đình chỉ giải quyết vụ án dân sự. Quy định này đã giúp những đương sự có thể khôi phục lại quyền và lợi ích đã bị xâm phạm dù thời hiệu khởi kiện không có góp phần bảo đảm quyền khởi kiện trên thực tế. Nhằm bảo đảm quyền khởi kiện vụ án cho các chủ thể được thực hiện tốt trên thực tế pháp luật Việt Nam còn quy định những trường hợp liên quan đến việc xác định thời hiệu khởi kiện. Cụ thể: - Các trường hợp không áp dụng thời hiệu khởi kiện như: Yêu cầu bảo vệ quyền nhân thân không gắn với tài sản; Yêu cầu bảo vệ quyền sở hữu, trừ trường hợp BLDS, luật khác có liên quan quy định khác; Tranh chấp về quyền sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai; Trường hợp khác do pháp luật quy định.