Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Tiền đề đánh giá tổng quan về tình hình nghiên cứu Đấu giá TSC có liên quan đến nhiều môn khoa học khác nhau, chủ yếu là khoa học pháp lý và kinh tế. Mặt khác, đối với mỗi quốc gia, hệ thống pháp luật về đấu giá TSC sẽ có những khác biệt nhất định. Do vậy, đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về đấu giá TSC ở Việt Nam” sẽ xuất phát từ những tiền đề sau: Thứ nhất, không tách bạch hoàn toàn khi nghiên cứu khoa học pháp lý về đấu giá TSC với các môn khoa học pháp lý khác có cùng đối tượng nghiên cứu.
Khi đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu, đề tài chỉ nhắc tới các công trình nghiên cứu thuộc môn khoa học khác ở một mức độ nhất định, khi mà kết quả nghiên cứu của các công trình đó góp phần làm sáng tỏ những vấn đề pháp lý của đề tài luận án. Thứ hai, việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu pháp luật nước ngoài sẽ không dàn trải tới tất cả các quốc gia trên thế giới mà chỉ lựa chọn những công trình đặt nền tảng hoặc có liên quan trực tiếp đến ĐGTS nói chung và đấu giá TSC nói riêng. Phân loại nội dung nghiên cứu Với mục tiêu hoàn thiện nền tảng lý luận pháp luật đấu giá TSC; phân tích, đánh giá các quy định pháp luật thực định và thực tiễn thực hiện nhằm xác định các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về đấu giá TSC ở Việt Nam, nội dung nghiên cứu của đề tài luận án được chia thành các vấn đề chủ yếu sau: Thứ nhất, nhóm vấn đề nghiên cứu lý luận chung về đấu giá TSC và pháp luật về đấu giá TSC, bao gồm: (i) khái niệm, đặc điểm, phân loại TSC; (ii) khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa của đấu giá TSC và phân loại trong đấu giá TSC; (iii) giao dịch đấu giá TSC; (iv) pháp luật điều chỉnh đấu giá TSC. Thứ hai, nhóm vấn đề nghiên cứu thực trạng pháp luật Việt Nam về đấu giá TSC, bao gồm: (i) phân tích các quy định pháp luật thực định về đấu giá TSC; (ii) thực tiễn thực hiện pháp luật về đấu giá TSC; (iii) đánh giá những ưu điểm và khuyết điểm của pháp luật về đấu giá TSC và (iv) tìm hiểu nguyên nhân của những bất cập trong pháp luật về đấu giá TSC ở Việt Nam.
Thứ ba, nhóm những kiến nghị liên quan đến hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đấu giá TSC, bao gồm: (i) định hướng hoàn thiện pháp luật Việt Nam về đấu giá TSC; (ii) kiến nghị giải pháp sửa đổi, bổ sung một số quy định pháp luật nhằm hoàn 6 thiện, nâng cao hiệu quả điều chỉnh và thực thi công tác đấu giá TSC ở Việt Nam. Từ ba nhóm nội dung nghiên cứu chủ yếu nêu trên, luận án đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước, trên cơ sở đó rút ra những thành tựu mà luận án cần kế thừa, những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, đồng thời xây dựng câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu, xác định cơ sở lý thuyết, phương pháp nghiên cứu và những kết quả nghiên cứu mới của luận án. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ở trong nước 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu lý luận chung về đấu giá tài sản công và pháp luật về đấu giá tài sản công Liên quan đến khái niệm đấu giá tài sản công Qua nghiên cứu tổng quan tài liệu, NCS nhận thấy phần lớn các công trình nghiên cứu ở Việt Nam thời gian qua thường đề cập đến pháp luật chung về ĐGTS; có rất ít công trình nghiên cứu về đấu giá TSC. Khái niệm ĐGTS đã được một số công trình nghiên cứu đề cập đến, như công trình: “Pháp luật về đấu giá hàng hoá trong thương mại ở Việt Nam” của Nguyễn Mạnh Cường (Luận án tiến sĩ luật học, Học viện Khoa học xã hội, năm 2012). Ở công trình này, tác giả Nguyễn Mạnh Cường đã nghiên cứu khái niệm ĐGTS (hàng hóa) trong hoạt động thương mại dưới góc độ là một hình thức mua bán hàng hóa đặc biệt với 3 dấu hiệu cơ bản: (1) được tổ chức công khai; (2) theo những nguyên tắc, thủ tục nhất định; (3) người mua tự trả giá dựa trên GKĐ do bên bán đưa ra, người nào trả giá cao nhất sẽ được quyền mua hàng hoá đấu giá [89, tr. Tác giả Đặng Thị Bích Liễu trong công trình “Pháp luật về đấu giá QSDĐ ở Việt Nam” (Luận án tiến sĩ luật học, Học viện khoa học xã hội, năm 2012) cũng nghiên cứu khái niệm đấu giá QSDĐ để nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất dưới góc độ là hình thức mua bán tài sản đặc biệt, và coi ĐGTS là một phương thức định đoạt tài sản của sở hữu chủ.
Trong khái niệm đưa ra, tác giả đã bổ sung điều kiện đối với người được quyền mua tài sản đấu giá phải là người trả giá cao nhất và ít nhất bằng GKĐ [118]. Bên cạnh khái niệm “đấu giá tài sản”, ở Việt Nam thời gian qua, có một số công trình nghiên cứu đã đưa ra khái niệm “bán đấu giá tài sản”. Xem xét quy định của pháp luật về đấu giá tài sản trong suốt thời gian dài, từ những năm 1996 khi nhà nước ta ban hành văn bản pháp luật chuyên ngành đầu tiên về ĐGTS (Nghị định số 86/NĐ-CP) cho đến trước thời điểm Luật ĐGTS có hiệu lực (01/7/2017), nhà nước ta đã quy định và sử dụng khái niệm “bán ĐGTS” trong hầu hết các văn bản pháp luật [33, khoản 1 Điều 2], [34, khoản 1 Điều 2], [35, khoản 1 Điều 2]. Tuy nhiên, khi so sánh khái niệm “bán ĐGTS” được quy định trong các văn bản pháp luật 7 trước đây với khái niệm “ĐGTS” được quy định trong Luật ĐGTS, ta không thấy có sự khác biệt gì đáng kể, ngoại trừ việc Luật ĐGTS đã bổ sung một phương thức đấu giá (phương thức đặt giá xuống) bên cạnh phương thức đấu giá truyền thống (phương thức trả giá lên) [147, khoản 2 Điều 5].
Và theo Từ điển Tiếng Việt, khái niệm “đấu giá” được định nghĩa tương tự như khái niệm “bán đấu giá” [132, tr. Giáo trình Luật dân sự, Tập 2, Trường Đại học Luật Hà Nội năm 2009 đã đưa ra khái niệm bán ĐGTS với các dấu hiệu: (1) là hình thức bán tài sản; (2) bán công khai; (3) có nhiều người tham gia trả giá, người nào trả giá cao nhất và không thấp hơn GKĐ là người mua được tài sản [171, tr. Một số tác giả khác cũng có quan điểm tương tự trong các công trình nghiên cứu của mình [96, tr. Trong Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Hoàn thiện pháp luật về bán ĐGTS nhằm thúc đẩy thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam” năm 2011 của Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp), khái niệm về bán ĐGTS đã được xem xét với ba đặc tính tương tự như đã nêu trong Giáo trình Luật dân sự, Tập 2 của Trường Đại học Luật Hà Nội; ngoài ra công trình còn bổ sung thêm đặc điểm thứ (4): việc bán đấu giá được tổ chức theo những nguyên tắc, trình tự và thủ tục nhất định [180, tr.
Mặc dù rất mờ nhạt nhưng hai công trình “Pháp luật bán ĐGTS” của tác giả Nguyễn Văn Úy (luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2003) và công trình “Thi hành pháp luật về đấu giá QSDĐ trên địa bản tỉnh Bắc Giang” của tác giả Cao Thị Thu Trang (luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2015) đã bổ sung vào khái niệm bán ĐGTS mục đích bán ĐGTS: bán được tài sản ở giá cao nhất [166], [175, tr. Đây là một trong những yếu tố phản ánh quy luật giá trị, cạnh tranh trong ĐGTS. Không đề cập đến mục đích bán ĐGTS như tác giả Nguyễn Văn Úy và Cao Thị Thu Trang, nhưng ngoài các dấu hiệu như đã nêu trên, một số công trình nghiên cứu còn tiếp cận khái niệm bán ĐGTS dưới góc độ: tổ chức ĐGTS có nghĩa vụ làm các thủ tục chuyển giao tài sản và quyền sở hữu tài sản cho người mua được tài sản đấu giá [103, tr. Có thể khi xây dựng khái niệm bán ĐGTS dưới góc độ này, các tác giả đã dựa trên những quy định của pháp luật thực định ở thời điểm nghiên cứu (tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp là người ký hợp đồng mua bán tài sản bán đấu giá với người trúng đấu giá và là người bàn giao tài sản đấu giá cho người mua được tài sản).
Tuy nhiên đến nay, góc độ tiếp cận này đã ít nhiều không còn phù hợp khi trách nhiệm ký hợp đồng mua bán tài sản đấu giá, giao tài sản đấu giá cho người mua được tài sản thuộc về người có tài sản đấu giá theo quy định mới của Luật ĐGTS. 8 Tác giả Lê Thị Hương Giang trong công trình“Bán ĐGTS thi hành án dân sự ở Việt Nam” (Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, năm 2019) đã nghiên cứu khái niệm bán ĐGTS dưới phạm vi khá rộng, từ quá trình người có tài sản thực hiện các thủ tục luật định để đưa tài sản ra đấu giá công khai tại tổ chức ĐGTS; quá trình tổ chức ĐGTS thực hiện dịch vụ ĐGTS thông qua hợp đồng với người có tài sản đấu giá để xác định người trúng đấu giá, đến quá trình người trúng đấu giá ký kết hợp đồng mua bán tài sản đấu giá với người có tài sản đấu giá và chuyển quyền sở hữu, bàn giao tài sản theo quy định của pháp luật [98, tr. Tuy nhiên, khái niệm này không hoàn toàn đúng trong những trường hợp đấu giá nhượng quyền (đấu giá quyền khai thác khoáng sản, đấu giá quyền sử dụng tần số vô tuyến điện, đấu giá QSDĐ để nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất, v. Thời gian qua, ở Việt Nam đã có một số công trình đề cập đến vấn đề đấu giá TSC.
Tuy nhiên, hầu hết các công trình là những bài viết tạp chí phản ánh những thuận lợi, khó khăn, tiêu cực trong công tác đấu giá TSC, hoặc phản ánh những kết quả đã đạt được [1, tr.; chưa có công trình nào nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, vai trò, ý nghĩa của đấu giá TSC một cách hoàn chỉnh.