đặt vấn đề chính sách pháp luật, khung pháp luật cũng như yêu cầu hoàn thiện pháp luật luôn giữ vai trò quan trọng tiên quyết cho sự phát triển CKĐT tại Việt Nam. Phƣơng pháp nghiên cứu Để thực hiện được những nhiệm vụ nghiên cứu và mục đích nghiên cứu, luận văn được tiếp cận theo các phương pháp nghiên cứu nhằm giải quyết các vấn đề nghiên cứu. Đối với từng nội dung cụ thể, luận văn chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích, phương pháp thống kê, phương pháp so sánh luật học và phương pháp lịch sử để đúc kết, rút ra những kết luận chính xác nhất liên quan đến CKĐT trong việc ký kết các loại hợp đồng. Trong từng nội dung nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu được sử dụng một cách linh hoạt, cụ thể: - Phương pháp phân tích luận cứ, luận điểm về CKĐT được sử dụng để làm rõ khái niệm về CKĐT cũng như những nội dung, đặc điểm của pháp luật về CKĐT trong HĐTM ở nước ta hiện nay.
- Phương pháp thu thập, thống kê, so sánh luật học các chứng cứ, số liệu thực tế của các DN đang sử dụng CKĐT nhằm chọn lọc dữ liệu, đối chiếu được những quy định của pháp luật so với thực tiễn áp dụng CKĐT tại Việt Nam. - Phương pháp tổng hợp, hệ thống hóa các bài nghiên cứu về CKĐT nhằm đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn, đồng thời 11 rút ra những kiến nghị, góp ý cho pháp luật về CKĐT sau khi tham khảo nhiều lý thuyết, thực tiễn và luật mẫu của các quốc gia trên thế giới. - Phương pháp lịch sử, quy nạp, diễn giải, chứng minh lý luận và thực tiễn áp dụng CKĐT ở nước ta để làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận cơ bản, đặc điểm và cơ chế thực thi của pháp luật về CKĐT trong các HĐTM. - Phương pháp dự báo, khái quát hóa các quan điểm và lý luận về CKĐT trên thế giới để xác định, đề xuất được những chủ trương, nguyên tắc hướng đến việc hoàn thiện pháp luật về CKĐT và nâng cao mức độ điều chỉnh của pháp luật CKĐT đối với HĐTM ở nước ta.
Nội dung và kết quả nghiên cứu Luận văn được thực hiện bao gồm các nội dung cốt lõi như sau: Về lý luận: Bao gồm khái niệm, lý thuyết về CKĐT, cùng với nội dung, đặc điểm, tính chất của CKĐT trong HĐTM Việt Nam. Bên cạnh đó là cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với CKĐT, những cá nhân, tổ chức tham gia vào quan hệ pháp luật về CKĐT và những HĐTM có liên quan đến CKĐT mà luật quy định. Về thực tiễn: Tập trung vào việc CKĐT đang được áp dụng trên thực tế như thế nào, cách thức áp dụng cũng như những khó khăn vướng mắc trong từng trường hợp cụ thể. Đồng thời tìm hiểu pháp luật một số quốc gia trên thế giới về CKĐT cùng với một số văn bản pháp luật quốc tế có liên quan.
Về kiến nghị: Sau khi có đầy đủ cơ sở lý thuyết và thực tiễn, luận văn trình bày, góp ý thêm về một số điểm trong pháp luật về CKĐT, bàn luận tìm hướng giải quyết cho những vướng mắc, khó khăn còn tồn đọng trong pháp luật về CKĐT ở Việt Nam. Trên cơ sở những nội dung nghiên cứu trên, tác giả cho rằng việc phát triển CKĐT đang là xu thế tất yếu trong sự phát triển kinh tế thương mại, có đóng góp lớn cho phát triển kinh tế quốc gia, nâng cao sự hội nhập chung vào nền kinh tế 12 quốc tế. Để đưa ra các đề xuất, kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật về CKĐT cần phải có sự nghiên cứu đầy đủ và toàn diện các tri thức lý luận về CKĐT cũng như pháp luật về TMĐT. Nội dung nghiên cứu cơ bản sẽ có những phần như sau: Thứ nhất, Luận văn nghiên cứu khái niệm và đặc điểm của CKĐT, chỉ ra các nguyên tắc cơ bản của pháp luật CKĐT, yêu cầu thực hiện pháp luật và những nội dung chủ yếu của pháp luật CKĐT.
Luận văn cũng nghiên cứu cơ chế thực hiện pháp luật và cơ chế giải quyết tranh chấp liên quan đến CKĐT cũng như cơ chế phối hợp giữa các chủ thể quản lý nhà nước trong việc thực hiện, thực thi pháp luật về CKĐT. Ngoài ra, Luận văn cũng hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm những vấn đề lý luận về pháp luật liên quan đến CKĐT. Thứ hai, trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đây, Luận văn tiếp tục chỉ ra những vấn đề bất cập, hạn chế về lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi, học hỏi kinh nghiệm của các nước để từ đó đưa ra được những quan điểm, kiến nghị hoàn thiện pháp luật về CKĐT nhằm bảo đảm tính khả thi và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về CKĐT ở Việt Nam. Kết luận và kiến nghị Việc sử dụng CKĐT trong Luận văn đã góp phần giúp cho tác giả nghiên cứu làm rõ một cách có hệ thống những vấn đề lý luận, thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về CKĐT trong việc ký kết HĐTM hiện nay tại Việt Nam.
Từ những kết quả nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn đã đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về chữ ký điện tử trong hợp đồng thương mại. 13 CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHỮ KÝ ĐIỆN TỬ TRONG HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI 1. Khái quát về chữ ký điện tử trong hợp đồng thƣơng mại 1. Khái niệm và đặc điểm của hợp đồng thương mại Như ta đã biết HĐTM là thuật ngữ phổ biến trong pháp luật về kinh tế, được hiểu là sự thỏa thuận của các chủ thể kinh doanh với nhau nhằm xác lập, thay đổi và chấm dứt quyền và nghĩa vụ của các bên trong việc thực hiện các hoạt động thương mại.
Hoạt động thương mại ở đây được quy định khá chi tiết theo Điều 1 LTM 2005 bao gồm: “1. Hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp các bên thoả thuận chọn áp dụng Luật này hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng Luật này. Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong trường hợp bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật này”.
Từ quy định trên có thể thấy việc ký kết HĐTM có thể diễn ra rất đa dạng giữa các chủ thể kinh doanh khác nhau, cả trong nước và nước ngoài, mà đôi khi khoảng cách địa lý là rất xa khiến các bên khó mà gặp nhau trực tiếp được và bắt 14 buộc phải sử dụng qua các phương tiện điện tử để trao đổi, bàn bạc cũng như thỏa thuận, giao dịch với nhau. Bên cạnh đó, HĐTM cũng có một số đặc điểm đặc trưng so với các loại hợp đồng dân sự thông thường. Đầu tiên là về chủ thể, HĐTM phải được ký kết giữa các thương nhân với nhau, hoặc có một bên là thương nhân. Về định nghĩa thương nhân đã được quy định cụ thể tại LTM 2005, đó là các tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh.
Ngoài ra chủ thể của HĐTM còn có thể là các cá nhân, tổ chức khác có hoạt động liên quan đến thương mại. Một đặc điểm nữa của HĐTM chính là về hình thức của hợp đồng. LTM 2005 quy định hợp đồng mua bán hàng hóa được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hay có thể được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với hợp đồng mua bán hàng hóa mà pháp luật quy định phải lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó.
LTM cũng cho phép thay thế hình thức văn bản bằng các hình thức khác có giá trị tương đương bao gồm điện báo, telex, fax, thông điệp dữ liệu điện tử và các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Đây chính là đặc điểm quan trọng mà pháp luật thương mại đã tạo thuận lợi cho các bên thương nhân có thể ký kết hợp đồng với nhau dưới nhiều hình thức và áp dụng các tiến bộ kĩ thuật công nghệ vào việc thỏa thuận, giao kết HĐTM. Tuy nhiên, chúng ta có thể tiếp cận dưới góc độ hình thức hợp đồng tuân theo quy định của BLDS, được xây dựng theo nền tảng chung cho pháp luật về hợp đồng, có quy định tại Điều 119 BLDS 2015 về hình thức hợp đồng bao gồm các hình thức giao kết “bằng lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể” trừ trường hợp luật quy định “phải được thể hiện bằng văn bản có công chứng, chứng thực, đăng ký”. Đặc biệt là hợp đồng không bị vô hiệu trong trường hợp có vi phạm về hình thức, trừ trường hợp pháp luật quy định khác.
15 HĐTM cũng rất đa dạng ngoài hợp đồng mua bán hàng hóa còn có nhiều loại hợp đồng khác như hợp đồng vận chuyển, hợp đồng đại lý, hợp đồng logistic v.v… Các loại HĐTM này được quy định cụ thể trong LTM 2005 và các văn bản luật khác liên quan. Khái niệm và đặc điểm của chữ ký điện tử Để tiết kiệm thời gian và chi phí trong giao dịch, đặc biệt là các giao dịch thương mại quốc tế, các bên liên quan có thể ký kết và hoàn tất hợp đồng một cách nhanh chóng hợp pháp ngay tại trụ sở của họ mà không cần phải dịch chuyển hợp đồng, hồ sơ, tài liệu, bố trí nhân sự đàm phán, sắp xếp thời gian hay phải chi trả những khoản tiền nhất định để tiến hành. Từ những đặc điểm cơ bản của HĐTM được phân tích ở trên có thể thấy việc áp dụng CKĐT trong các HĐTM ngày nay là hữu ích và cần thiết, đặc biệt trong bối cảnh có thể xảy ra những đại dịch như Covid - 19 vừa qua. Trong những trường hợp như vậy, việc áp dụng các ứng dụng CKĐT trong các quan hệ thương mại là một trong những phương án khả thi nhất nhằm đảm bảo tính pháp lý và hiệu lực của hợp đồng1.
Việc ra đời CKĐT như là cuộc cách mạng góp phần thay đổi các hồ sơ dữ liệu thủ công của các tổ chức, DN, trở thành các dữ liệu điện tử và thúc đẩy các giao dịch TMĐT lên một trình độ mới.