Tài liệu Y tế: Nguyễn sỹ sơn phân tích cơ cấu giá thành sản xuất thuốc

Luận văn phân tích cơ cấu giá thành sản xuất thuốc đông dược và thực phẩm chức năng tại Công ty Dược vật tư y tế Thanh Hóa năm 2017.

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp I

2019

108
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về phân tích cơ cấu giá thành sản xuất thuốc

Nguyễn Sỹ Sơn đã thực hiện nghiên cứu chuyên sâu về phân tích cơ cấu giá thành sản xuất tại Công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Thanh Hóa năm 2017. Luận văn này tập trung vào việc phân tích chi tiết các thành phần chi phí trong sản xuất thuốc đông dược và thực phẩm chức năng. Nghiên cứu bao gồm phân tích toàn diện về giá thành sản xuất, từ nguyên phụ liệu đến các chi phí quản lý và khấu hao. Đây là một công trình học thuật có giá trị cao, được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Xuân Thắng tại Đại học Dược Hà Nội. Nội dung luận văn cung cấp cái nhìn toàn diện về cơ chế định giá trong ngành dược phẩm Việt Nam, đặc biệt là cơ cấu giá thành của các sản phẩm đông dương.

1.1. Khái niệm cơ cấu giá thành sản xuất

Cơ cấu giá thành sản xuất bao gồm tổng hợp các chi phí nguyên phụ liệu, tiền lương, khấu hao tài sản cố định và các chi phí khác. Mỗi thành phần đóng vai trò quan trọng trong việc xác định giá thành cuối cùng của sản phẩm. Phân tích chi tiết các yếu tố này giúp doanh nghiệp tối ưu hóa chi phí sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế.

1.2. Vai trò của phân tích giá thành trong doanh nghiệp dược phẩm

Phân tích cơ cấu giá thành là nền tảng để doanh nghiệp đưa ra quyết định kinh doanh chính xác. Nó giúp quản lý chi phí hiệu quả, xác định lợi nhuận hợp lý và cạnh tranh trên thị trường. Đối với ngành dược phẩm, việc hiểu rõ giá thành sản xuất giúp cải thiện chất lượng sản phẩm và tăng khả năng cạnh tranh.

II. Cơ cấu chi phí sản xuất theo phân tích của Nguyễn Sỹ Sơn

Nghiên cứu của Nguyễn Sỹ Sơn phân loại chi phí sản xuất thành các khoản mục chính. Chi phí nguyên phụ liệu chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu giá thành. Bên cạnh đó, chi phí tiền lương, chi phí khấu hao tài sản cố địnhchi phí nhiên liệu cũng có ảnh hưởng đáng kể. Chi phí cho công tác nghiên cứu và phát triển và các chi phí khác hoàn thiện bức tranh về giá thành sản xuất. Sự phân chia này giúp xác định rõ ràng từng yếu tố tác động đến giá thành của sản phẩm thuốc đông dượcthực phẩm chức năng.

2.1. Chi phí nguyên phụ liệu trong giá thành sản xuất

Chi phí nguyên phụ liệu bao gồm nguyên liệu chính, tá dượcbao bì. Đây là yếu tố chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu giá thành. Nguyên liệu chính là các thành phần hoạt chất, tá dược hỗ trợ quá trình sản xuất, bao bì bảo vệ sản phẩm. Phân tích nguồn gốc của nguyên liệu (trong nước hoặc nhập khẩu) ảnh hưởng trực tiếp đến chi phígiá thành.

2.2. Chi phí lao động và định phí trong sản xuất

Chi phí tiền lươngchi phí biến phí trực tiếp liên quan đến sản xuất. Chi phí khấu hao tài sản cố định được coi là chi phí định phí, không thay đổi theo sản lượng. Sự cân bằng giữa chi phí biến phíchi phí định phí quyết định hiệu quả giá thành sản xuất tổng thể.

III. Các yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu giá thành sản xuất

Nguyễn Sỹ Sơn đã xác định nhiều yếu tố ảnh hưởng đến cơ cấu giá thành sản xuất. Sự biến động của giá nguyên liệu là yếu tố quan trọng nhất, ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất. Sự biến động của tỷ giá ngoại tệ làm tăng chi phí nguyên liệu nhập khẩu. Sự tăng giá nhiên liệusự tăng lên trong chi phí tiền lương là những áp lực giá cả không thể tránh khỏi. Ngoài ra, còn có các yếu tố khác như chi phí vận chuyển, bảo quản, và các quy định về chất lượng. Hiểu rõ các yếu tố này giúp doanh nghiệp dự báo và quản lý chi phí hiệu quả.

3.1. Biến động giá nguyên liệu và tỷ giá ngoại tệ

Giá nguyên liệu trên thị trường quốc tế biến động liên tục, tác động mạnh đến chi phí sản xuất. Tỷ giá ngoại tệ ảnh hưởng đến chi phí nguyên liệu nhập khẩu. Các doanh nghiệp cần theo dõi chặt chẽ những thay đổi này để điều chỉnh giá thành phù hợp và duy trì lợi nhuận.

3.2. Tăng giá nhiên liệu và chi phí lao động

Giá nhiên liệu trong sản xuất tăng đều theo thời gian, làm tăng chi phí sản xuất. Chi phí tiền lương cũng liên tục tăng do áp lực từ chính sách tiền lương tối thiểu. Những yếu tố này buộc doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất để duy trì giá thành cạnh tranh.

IV. Kết quả và kiến nghị từ phân tích của Nguyễn Sỹ Sơn

Luận văn của Nguyễn Sỹ Sơn đã đưa ra những kết quả quan trọng về cơ cấu giá thành của các sản phẩm thuốc đông dược tại Công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Thanh Hóa. Phân tích chi tiết về cơ cấu nguyên liệu chính, tá dược, bao bì theo từng dạng bào chế cung cấp cơ sở khoa học cho quản lý chi phí. Từ đó, đề xuất được những kiến nghị để tối ưu hóa giá thành sản xuất, giảm chi phí mà vẫn đảm bảo chất lượng sản phẩm. Các kiến nghị này có giá trị thực tiễn cao cho ngành dược phẩm Việt Nam, giúp doanh nghiệp nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường.

4.1. Những phát hiện chính từ phân tích cơ cấu giá thành

Nghiên cứu chỉ ra rằng chi phí nguyên phụ liệu chiếm tỷ lệ cao nhất trong giá thành sản xuất. Nguồn gốc của nguyên liệu (trong nước hay nhập khẩu) ảnh hưởng đáng kể đến chi phí. Các dạng bào chế khác nhau có cơ cấu giá thành khác nhau. Những phát hiện này giúp doanh nghiệp hiểu rõ hơn về cấu trúc chi phí của từng sản phẩm.

4.2. Kiến nghị cải thiện quản lý chi phí và giá thành

Luận văn đề xuất cần kiểm soát chặt chẽ chi phí nguyên phụ liệu, tối ưu hóa quá trình sản xuất để giảm chi phí định phí. Cần xây dựng kế hoạch quản lý chuỗi cung ứng để ổn định giá nguyên liệu. Nên đầu tư vào công nghệ hiện đại để tăng hiệu suất sản xuất và giảm chi phí.

21/12/2025
Nguyễn sỹ sơn phân tích cơ cấu giá thành sản xuất thuốc đông dược và thực phẩm chức năng tại công ty cổ phần dược vật tư y tế thanh hóa năm 2017 luận văn dược sĩ chuyên khoa cấp i hà nội 2019

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Phân tích các loại chi phí cấu thành giá thành sản phẩm là một kỹ thuật phân tích giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có được cái nhìn cụ thể, định lượng về các loại chi phí cấu thành giá thành sản phẩm, giá trị của từng loại chi phí, tỷ trọng của các loại phí. trong tổng phí, các yếu tố ảnh hưởng đến từng loại chi phí. Trên cơ sở đó có thể đánh giá tính hợp lý của từng khoản mục chi phí, phát hiện các nguyên nhân dẫn đến lãng phí và đề ra các giải pháp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [15]. Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người.

Mục tiêu ngành Dược ngoài lợi nhuận (mục tiêu kinh tế) còn phải cung ứng đủ thuốc, kịp thời, chất lượng an toàn, có hiệu quả trong điều trị (mục tiêu y tế), với giá cả hợp lý và phù hợp với khả năng chi trả của người dân (mục tiêu xã hội) [8]. Giá thuốc mang cả ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa nhân đạo to lớn, giá thuốc không chỉ được điều tiết theo quy luật thị trường bởi các yếu tố lợi nhuận, giá cả, cạnh tranh mà còn chịu sự quản lý đặc biệt của nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền. Đối với doanh nghiệp sản xuất thuốc, các chi phí sản xuất (giá thành sản xuất) là cơ sở quan trọng để định giá bán thuốc [8]. Tính được giá thành sản xuất cho phép doanh nghiệp có chiến lược về giá để sản phẩm mang tính cạnh tranh cao mà vẫn có lãi [1].

Sản xuất thuốc đông dược ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp Dược Việt Nam. Chiến lược quốc gia phát triển phát triển ngành Dược Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 cũng xác định vị thế và vai trò của thuốc đông dược, thuốc từ dược liệu là chiếm 30% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong nước và phấn đấu sản xuất được 20% nguyên liệu cho sản xuất thuốc [14]. 1 Công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Thanh Hoá là công ty sản xuất và kinh doanh cả thuốc tân dược và đông dược, được thành lập từ năm 1961 và những năm gần đây luôn là một trong các công ty có doanh thu cao trong ngành Dược. Các sản phẩm thuốc Đông dược cũng luôn được công ty quan tâm và phát triển, với nhiều sản phẩm có uy tín trên thị trường.

Để giảm sự phụ thuộc nguồn dược liệu không ổn định trên thị trường Công ty đã bước đầu thực hiện dự án trồng dược liệu hy thiêm và ích mẫu theo tiêu chuẩn GACP từ năm 2015 cung cấp nguồn dược liệu chất lượng và ổn định cho công ty. Từ năm 2016 đến nay có nhiều thay đổi trong chiến lược sản phẩm, có nhiều sản phẩm mới và dừng sản xuất các sản phẩm không hiệu quả, Công ty đã đầu tư thêm các dây chuyền sản xuất mới như nang mềm, thuốc nước tân dược, ống nhựa, thuốc cốm, viên sủi … và nhiều thiết bị tự động thay thế thiết bị cũ năng suất kém như máy sấy tầng sôi, máy đóng ống uống, máy phun sấy cao khô, … đồng thời cải tiến mẫu mã bao bì và chất lượng nhiều sản phẩm. Trong quá trình sản xuất các sản phẩm và phát triển sản phẩm mới thì vấn đề được quan tâm và câu hỏi đặt ra là yếu tố nào ảnh hưởng lớn đến giá thành sản xuất thuốc và làm thế nào để giảm giá thành sản xuất mà vẫn đảm bảo chất lượng? Để góp phần giải quyết vấn đề này, chúng tôi tiến hành làm đề tài sau: “Phân tích cơ cấu giá thành sản xuất thuốc đông dược và thực phẩm chức năng tại Công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Thanh Hóa năm 2017”. Với mục tiêu: 1.

Phân tích cơ cấu giá thành sản xuất một số sản phẩm thuốc đông dược và thực phẩm chức năng theo các loại chi phí tại công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Thanh Hoá năm 2017. Phân tích cơ cấu chi phí nguyên phụ liệu một số sản phẩm thuốc đông dược và thực phẩm chức năng theo nguồn gốc tại công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Thanh Hoá năm 2017. 2 Từ đó đưa ra một số đề xuất giảm chi phí sản xuất hoặc có những biện pháp hạn chế sự biến động giá thành sản xuất thuốc đông dược và thực phẩm chức năng tại công ty, nâng cao hiệu quả công tác quản trị chi phí và giá thành. Cơ cấu giá thành sản xuất thuốc Giá thuốc phải đảm bảo duy trì và phát triển nền sản xuất dược phẩm trong nước đồng thời định hướng khuyến khích sử dụng thuốc an toàn hợp lý và hiệu quả kinh tế cao cho người bệnh cũng như toàn xã hội.

Vì vậy, các nhà quản lý dược luôn mong muốn giảm giá thành thuốc trên thị trường. Giống như các loại hàng hóa khác, cơ cấu giá thuốc sản xuất bao gồm các khoản mục như trong thông tư số 154/2010/TT-BTC ngày 01/10/2010 của Bộ tài chính về việc ban hành quy chế tính giá tài sản, hàng hóa dịch vụ. Có thể khái quát cơ cấu giá thuốc sản xuất trong nước gồm: Chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, lợi nhuận dự kiến, thuế GTGT. Chi phí sản xuất là tập hợp tất cả những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất.

Giá thành sản xuất hay chi phí sản xuất thường gồm các khoản mục chi phí sau: 6 Chi phí sản xuất Chi phí Chi phí Chi phí Chi phí Chi phí Chi phí NPL tiền lương khấu hao nhiên liệu R&D khác TSCĐ Hình 1. Các yếu tố cấu thành chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là một yếu tố cơ bản trong cơ cấu giá thuốc. Những biến động của chí phí sản xuất sẽ được phản ánh trong quá trình định giá thuốc của doanh nghiệp. Sự tác động của chi phí sản xuất tới giá cả sẽ được thể hiện trên hai chiều hướng căn bản sau: - Sự gia tăng của chi phí sản xuất sản phẩm sẽ tạo sức ép tăng giá và ảnh hưởng đến khả năng thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp và khả 4 năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

Bất kỳ sự gia tăng chi phí nào đều ảnh hưởng đến khả năng duy trì mức giá hiện tại của sản phẩm. - Sự hạ giảm chi phí sản xuất sẽ tạo điều kiện thuận lợi để giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận và là biện pháp cạnh tranh quan trọng của doanh nghiệp [13]. Vì vậy, việc tìm hiểu cơ cấu giá thành sản xuất là rất quan trọng, thông qua đó các nhà sản xuất cũng như các nhà quản lý dược có thể áp dụng các biện pháp cần thiết giảm giá thành sản xuất, góp phần giảm giá thuốc hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng. Chi phí nguyên phụ liệu Chi phí nguyên phụ liệu (NPL) bao gồm chi phí nguyên liệu chính), chi phí tá dược, chi phí bao bì đóng gói.

Chi phí nguyên liệu chính: Nguyên liệu chính tạo ra tác dụng trong một công thức thuốc. Nguyên liệu chính thường có tỷ lệ không lớn trong các thành phần của một công thức thuốc nhưng cũng là thành phần chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành thuốc. Đối với thuốc từ dược liệu NLC bao gồm các nguyên liệu là dược liệu. Dạng thuốc Nam Bắc dược liệu đã qua sơ chế một phần như sao, sấy, tẩm,….

Đối với dạng bào chế hiện đại NLC được đưa vào sản xuất ở các dạng đã qua chiết xuất như cao đặc, cao khô, tinh dầu hoặc dạng bột. Các nguyên liệu chính hóa dược phần lớn được xét phân loại theo nhóm tác dụng dược lý. Theo Quyết định số 05/2008/QĐ-BYT ngày 01/2/2008 về danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh, có 27 nhóm điều trị, trong đó 3 nhóm điều trị chủ yếu là kháng sinh, hạ nhiệt giảm đau và vitamin. Chi phí tá dược: Tá dược là thành phần thêm vào để đảm bảo công thức thuốc, tuy không có tác dụng điều trị nhưng nó góp phần tạo ra một công thức thuốc theo dạng bào chế mà nhà sản xuất mong muốn.

5 Tùy theo các dạng bào chế khác nhau mà tá dược được chia thành các loại khác nhau. Đối với thuốc viên có thể chia thành: Tá dược độn, tá dược bao trơn, tá dược rã, tá dược bao phim, tá dược tạo hương, tá dược tạo màu, vỏ nang. Đối với thuốc bột có tá dược độn, tá dược điều vị. Đối với viên nang mềm có gelatin, dầu, chất nhũ hóa, chất hóa dẻo, phẩm màu,.

Chi phí bao bì: Bao bì có tác dụng bảo vệ, tạo dạng dùng cho thuốc. Ngoài ra nó còn có vài trò thẩm mỹ và tạo thương hiệu cho sản phẩm. Bao bì có bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc và bao bì khác: Bao bì bảo quản (túi nhôm, thúi thiếc), bao bì thương phẩm và bao bì vận chuyển. Tùy theo từng dạng quy cách đóng gói mà có các loại bao bì tiếp xúc trực tiếp khác nhau.

Đối với quy cách dạng vỉ thì bao bì tiếp xúc trực tiếp là màng nhôm, màng PVC. Đối với quy cách dạng lọ thì bao bì tiếp xúc trực tiếp là lọ nhựa và lọ thủy tinh còn đối với quy cách gói túi phân liều thì bao bì tiếp xúc trực tiếp là màng phức hợp. Chi phí NPL chiếm tỷ trọng cao trong chí phí sản xuất thuốc. Đối với thuốc sản xuất trong nước tỷ trọng này thường chiếm trên 70%.

Kết quả từ một nghiên cứu được tiến hành năm 2007 cho thấy tại công ty Cổ phần Dược phẩm Hải Phòng chi phí này chiếm 71,26% so với doanh thu và chiếm 83,4% so với chi phí sản xuất [7]. Một nghiên cứu khác năm 2009 cho thấy một số thuốc sản xuất trong nước chi phí nguyên phụ liệu cũng chiếm từ 52,0% đến 96,1% so với giá thành sản xuất [19], cũng theo một nghiên cứu vào năm 2015 cho thấy tại công ty cổ phần Dược – Vật tư y tế Thanh Hóa chi phí này chiếm trên 80% so với chi phí sản xuất [13]. Với mức tỷ trọng cao như vậy thì mọi biến động về chi phí nguyên phụ liệu đều gây ra những biến động về giá thành sản xuất thuốc cũng như giá bán thuốc. Phần lớn nguyên liệu dược phẩm của Việt Nam đều phải nhập khẩu (trên 90%), và Việt Nam chưa có công nghiệp sản xuất nguyên liệu [16].

Ngay cả nguồn dược liệu làm thuốc chúng ta cũng mới chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu, còn lại hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn hàng nhập khẩu.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ