ĐẶT VẤN ĐỀ Phân tích các loại chi phí cấu thành giá thành sản phẩm là một kỹ thuật phân tích giúp các nhà quản trị doanh nghiệp có được cái nhìn cụ thể, định lượng về các loại chi phí cấu thành giá thành sản phẩm, giá trị của từng loại chi phí, tỷ trọng của các loại phí. trong tổng phí, các yếu tố ảnh hưởng đến từng loại chi phí. Trên cơ sở đó có thể đánh giá tính hợp lý của từng khoản mục chi phí, phát hiện các nguyên nhân dẫn đến lãng phí và đề ra các giải pháp để tiết kiệm chi phí, hạ giá thành từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp [15]. Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe và tính mạng của con người.
Mục tiêu ngành Dược ngoài lợi nhuận (mục tiêu kinh tế) còn phải cung ứng đủ thuốc, kịp thời, chất lượng an toàn, có hiệu quả trong điều trị (mục tiêu y tế), với giá cả hợp lý và phù hợp với khả năng chi trả của người dân (mục tiêu xã hội) [8]. Giá thuốc mang cả ý nghĩa kinh tế và ý nghĩa nhân đạo to lớn, giá thuốc không chỉ được điều tiết theo quy luật thị trường bởi các yếu tố lợi nhuận, giá cả, cạnh tranh mà còn chịu sự quản lý đặc biệt của nhà nước và các cơ quan có thẩm quyền. Đối với doanh nghiệp sản xuất thuốc, các chi phí sản xuất (giá thành sản xuất) là cơ sở quan trọng để định giá bán thuốc [8]. Tính được giá thành sản xuất cho phép doanh nghiệp có chiến lược về giá để sản phẩm mang tính cạnh tranh cao mà vẫn có lãi [1].
Sản xuất thuốc đông dược ngày càng chiếm vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp Dược Việt Nam. Chiến lược quốc gia phát triển phát triển ngành Dược Việt Nam đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 cũng xác định vị thế và vai trò của thuốc đông dược, thuốc từ dược liệu là chiếm 30% tổng giá trị thuốc tiêu thụ trong nước và phấn đấu sản xuất được 20% nguyên liệu cho sản xuất thuốc [14]. 1 Công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Thanh Hoá là công ty sản xuất và kinh doanh cả thuốc tân dược và đông dược, được thành lập từ năm 1961 và những năm gần đây luôn là một trong các công ty có doanh thu cao trong ngành Dược. Các sản phẩm thuốc Đông dược cũng luôn được công ty quan tâm và phát triển, với nhiều sản phẩm có uy tín trên thị trường.
Để giảm sự phụ thuộc nguồn dược liệu không ổn định trên thị trường Công ty đã bước đầu thực hiện dự án trồng dược liệu hy thiêm và ích mẫu theo tiêu chuẩn GACP từ năm 2015 cung cấp nguồn dược liệu chất lượng và ổn định cho công ty. Từ năm 2016 đến nay có nhiều thay đổi trong chiến lược sản phẩm, có nhiều sản phẩm mới và dừng sản xuất các sản phẩm không hiệu quả, Công ty đã đầu tư thêm các dây chuyền sản xuất mới như nang mềm, thuốc nước tân dược, ống nhựa, thuốc cốm, viên sủi … và nhiều thiết bị tự động thay thế thiết bị cũ năng suất kém như máy sấy tầng sôi, máy đóng ống uống, máy phun sấy cao khô, … đồng thời cải tiến mẫu mã bao bì và chất lượng nhiều sản phẩm. Trong quá trình sản xuất các sản phẩm và phát triển sản phẩm mới thì vấn đề được quan tâm và câu hỏi đặt ra là yếu tố nào ảnh hưởng lớn đến giá thành sản xuất thuốc và làm thế nào để giảm giá thành sản xuất mà vẫn đảm bảo chất lượng? Để góp phần giải quyết vấn đề này, chúng tôi tiến hành làm đề tài sau: “Phân tích cơ cấu giá thành sản xuất thuốc đông dược và thực phẩm chức năng tại Công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Thanh Hóa năm 2017”. Với mục tiêu: 1.
Phân tích cơ cấu giá thành sản xuất một số sản phẩm thuốc đông dược và thực phẩm chức năng theo các loại chi phí tại công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Thanh Hoá năm 2017. Phân tích cơ cấu chi phí nguyên phụ liệu một số sản phẩm thuốc đông dược và thực phẩm chức năng theo nguồn gốc tại công ty cổ phần Dược - Vật tư y tế Thanh Hoá năm 2017. 2 Từ đó đưa ra một số đề xuất giảm chi phí sản xuất hoặc có những biện pháp hạn chế sự biến động giá thành sản xuất thuốc đông dược và thực phẩm chức năng tại công ty, nâng cao hiệu quả công tác quản trị chi phí và giá thành. Cơ cấu giá thành sản xuất thuốc Giá thuốc phải đảm bảo duy trì và phát triển nền sản xuất dược phẩm trong nước đồng thời định hướng khuyến khích sử dụng thuốc an toàn hợp lý và hiệu quả kinh tế cao cho người bệnh cũng như toàn xã hội.
Vì vậy, các nhà quản lý dược luôn mong muốn giảm giá thành thuốc trên thị trường. Giống như các loại hàng hóa khác, cơ cấu giá thuốc sản xuất bao gồm các khoản mục như trong thông tư số 154/2010/TT-BTC ngày 01/10/2010 của Bộ tài chính về việc ban hành quy chế tính giá tài sản, hàng hóa dịch vụ. Có thể khái quát cơ cấu giá thuốc sản xuất trong nước gồm: Chi phí sản xuất, chi phí bán hàng, lợi nhuận dự kiến, thuế GTGT. Chi phí sản xuất là tập hợp tất cả những chi phí phát sinh liên quan trực tiếp đến sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ phận sản xuất.
Giá thành sản xuất hay chi phí sản xuất thường gồm các khoản mục chi phí sau: 6 Chi phí sản xuất Chi phí Chi phí Chi phí Chi phí Chi phí Chi phí NPL tiền lương khấu hao nhiên liệu R&D khác TSCĐ Hình 1. Các yếu tố cấu thành chi phí sản xuất Chi phí sản xuất là một yếu tố cơ bản trong cơ cấu giá thuốc. Những biến động của chí phí sản xuất sẽ được phản ánh trong quá trình định giá thuốc của doanh nghiệp. Sự tác động của chi phí sản xuất tới giá cả sẽ được thể hiện trên hai chiều hướng căn bản sau: - Sự gia tăng của chi phí sản xuất sản phẩm sẽ tạo sức ép tăng giá và ảnh hưởng đến khả năng thực hiện mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp và khả 4 năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.
Bất kỳ sự gia tăng chi phí nào đều ảnh hưởng đến khả năng duy trì mức giá hiện tại của sản phẩm. - Sự hạ giảm chi phí sản xuất sẽ tạo điều kiện thuận lợi để giảm giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận và là biện pháp cạnh tranh quan trọng của doanh nghiệp [13]. Vì vậy, việc tìm hiểu cơ cấu giá thành sản xuất là rất quan trọng, thông qua đó các nhà sản xuất cũng như các nhà quản lý dược có thể áp dụng các biện pháp cần thiết giảm giá thành sản xuất, góp phần giảm giá thuốc hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng. Chi phí nguyên phụ liệu Chi phí nguyên phụ liệu (NPL) bao gồm chi phí nguyên liệu chính), chi phí tá dược, chi phí bao bì đóng gói.
Chi phí nguyên liệu chính: Nguyên liệu chính tạo ra tác dụng trong một công thức thuốc. Nguyên liệu chính thường có tỷ lệ không lớn trong các thành phần của một công thức thuốc nhưng cũng là thành phần chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành thuốc. Đối với thuốc từ dược liệu NLC bao gồm các nguyên liệu là dược liệu. Dạng thuốc Nam Bắc dược liệu đã qua sơ chế một phần như sao, sấy, tẩm,….
Đối với dạng bào chế hiện đại NLC được đưa vào sản xuất ở các dạng đã qua chiết xuất như cao đặc, cao khô, tinh dầu hoặc dạng bột. Các nguyên liệu chính hóa dược phần lớn được xét phân loại theo nhóm tác dụng dược lý. Theo Quyết định số 05/2008/QĐ-BYT ngày 01/2/2008 về danh mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở khám chữa bệnh, có 27 nhóm điều trị, trong đó 3 nhóm điều trị chủ yếu là kháng sinh, hạ nhiệt giảm đau và vitamin. Chi phí tá dược: Tá dược là thành phần thêm vào để đảm bảo công thức thuốc, tuy không có tác dụng điều trị nhưng nó góp phần tạo ra một công thức thuốc theo dạng bào chế mà nhà sản xuất mong muốn.
5 Tùy theo các dạng bào chế khác nhau mà tá dược được chia thành các loại khác nhau. Đối với thuốc viên có thể chia thành: Tá dược độn, tá dược bao trơn, tá dược rã, tá dược bao phim, tá dược tạo hương, tá dược tạo màu, vỏ nang. Đối với thuốc bột có tá dược độn, tá dược điều vị. Đối với viên nang mềm có gelatin, dầu, chất nhũ hóa, chất hóa dẻo, phẩm màu,.
Chi phí bao bì: Bao bì có tác dụng bảo vệ, tạo dạng dùng cho thuốc. Ngoài ra nó còn có vài trò thẩm mỹ và tạo thương hiệu cho sản phẩm. Bao bì có bao bì tiếp xúc trực tiếp với thuốc và bao bì khác: Bao bì bảo quản (túi nhôm, thúi thiếc), bao bì thương phẩm và bao bì vận chuyển. Tùy theo từng dạng quy cách đóng gói mà có các loại bao bì tiếp xúc trực tiếp khác nhau.
Đối với quy cách dạng vỉ thì bao bì tiếp xúc trực tiếp là màng nhôm, màng PVC. Đối với quy cách dạng lọ thì bao bì tiếp xúc trực tiếp là lọ nhựa và lọ thủy tinh còn đối với quy cách gói túi phân liều thì bao bì tiếp xúc trực tiếp là màng phức hợp. Chi phí NPL chiếm tỷ trọng cao trong chí phí sản xuất thuốc. Đối với thuốc sản xuất trong nước tỷ trọng này thường chiếm trên 70%.
Kết quả từ một nghiên cứu được tiến hành năm 2007 cho thấy tại công ty Cổ phần Dược phẩm Hải Phòng chi phí này chiếm 71,26% so với doanh thu và chiếm 83,4% so với chi phí sản xuất [7]. Một nghiên cứu khác năm 2009 cho thấy một số thuốc sản xuất trong nước chi phí nguyên phụ liệu cũng chiếm từ 52,0% đến 96,1% so với giá thành sản xuất [19], cũng theo một nghiên cứu vào năm 2015 cho thấy tại công ty cổ phần Dược – Vật tư y tế Thanh Hóa chi phí này chiếm trên 80% so với chi phí sản xuất [13]. Với mức tỷ trọng cao như vậy thì mọi biến động về chi phí nguyên phụ liệu đều gây ra những biến động về giá thành sản xuất thuốc cũng như giá bán thuốc. Phần lớn nguyên liệu dược phẩm của Việt Nam đều phải nhập khẩu (trên 90%), và Việt Nam chưa có công nghiệp sản xuất nguyên liệu [16].
Ngay cả nguồn dược liệu làm thuốc chúng ta cũng mới chỉ đáp ứng được 10% nhu cầu, còn lại hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn hàng nhập khẩu.