CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG Mã chương: MH13-01 Giới thiệu: Là những nội dung chung xuyên suốt trong công tác thiết kế kiến trúc các công trình dân dụng. Mục tiêu: - Biết được nhiệm vụ, phương hướng phát triển và phương châm thiết kế kiến trúc của Đảng và nhà nước; - Biết được các nguyên lý cơ bản về thiết kế kiến trúc: Nhu cầu ánh sáng, thông gió, cách âm, cách nhiệt và chống nóng cho công trình; - Biết được nguyên lý tổ hợp kiến trúc và những nhân tớ ảnh hưởng trong tổ hợp kiến trúc; - Biết được phương pháp và trình tự thiết kế kiến trúc một công trình. Nội dung chính: 1. Giới thiệu môn học: 1.
Thiết kế Kiến trúc: + Là một môn khoa học, đồng thời là một môn nghệ thuật thiết kế xây dựng nhà cửa và công trình- Một hoạt động sáng tạo của con người, nhằm tạo ra một môi trường mới thích nghi và phục vụ tốt cho điều kiện sinh hoạt của con người. + Nghiên cứu, vận dụng những nguyên lý về thiết kế kiến trúc kết hợp với phương châm nghiên cứu thiết kế của nhà nước để lập thiết kế các công trình kiến trúc. + Là việc lập các bản vẽ để thể hiện các kết quả nghiên cứu khoa học-kỹ thuật và nghệ thuật. Để thực hiện việc xây dựng công trình.
Nguyên lý thiết kế kiến trúc: Là những nguyên tắc. lý luận khoa học cơ bản được dùng làm cơ sở để thiết kế công trình kiến trúc. NLTKKT là cung cấp cho người thiết kế những nguyên tắc cơ bản để sáng tạo kiến trúc( tức là những nguyên tắc về bố cục quy hoạch không gian kiến trúc của nhà, bộ mặt bên ngoài và bên trong của nó trong mới quan hệ chặt chẽ với kết cấu vật lý kiến trúc và kinh tế. TKKT: Là một hoạt động sáng tạo của con người để tạo của con người để tạo ra môi trường mới nhằm thoảt mãn các yêu cầu của đời sống con người về mặt vật chất và tinh thần.
Yêu cầu: Muốn học tốt môn nguyên lý thiết kế phải nắm vững được các môn đã học như vẽ kỹ thuật, cấu tạo kiến trúc, kết cấu. từ đó mới có điều kiện vận dụng những nguyên lý, phương châm thiết kế, để nghiên cứu thiết kế công trình và thể hiện được đúng đắn, đầy đủ, rõ ràng lên bản vẽ. Nhiệm vụ và phương hướng phát triển công tác thiết kế kiến trúc: 2. Nhiệm vụ: Thiết kế kiến trúc để phục vụ cho điều kiện sử dụng của con người về mặt vật chất cũng như tinh thần.
Phương hướng: 2. Đặc điểm của tác phẩm kiến trúc: - Kiến trúc là kết quả của sự tổng hợp giữa khoa học kỹ thuật và nghệ thuật: + Tác phẩm kiến trúc ra đời được công nhận là hoàn hảo có giá trị khi nó đáp ứng được yêu cầu sử dụng, ứng dụng tốt các khoa học-kỹ thuật tiến bộ vào tác phẩm, thoả mãn yêu cầu kinh tế, đạt yêu cầu thẩm mỹ của số đông người. + Để thực hiện được một tác phẩm kiến trúc có giá trị phải trải qua khâu thiết kế thi công xây dựng, lắp đặt trang thiết bị kỹ thuật và hoàn thiện công trình. Khi thiết kế phải huy động trí tuệ của nhiều ngành như KTS, KS kết cấu, KS điện nước, vật lý xây dựng, môi trường, KS kinh tế xây dựng.
Giai đoạn thi công phải huy động trí tuệ của các kỹ sư thi công lắp đặt trang thiết bị, máy móc thi công. Ngày nay nhu cầu cuộc sống của con người ngày càng cao tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển nhanh, đòi hỏi người kiến trúc sư và kỹ sư phải tự trang bị cho mình kiến thức khoa học- kỹ thuật để đạt được tác phẩm kiến trúc có giá trị về mặt thẩm mỹ cũng như khoa học -kỹ thuật. 6 Bảo tàng nghệ thuật MILWAUKEE bang WISCONSIN, Hoa Kỳ năm 2002 - Kiến trúc phản ánh xã hội mang tính tư tưởng: Tác phẩm kiến trúc tạo nên một hình tượng khái quát súc tích về một xã hội nhất định thông qua từng giai đoạn lịch sử: + Mức độ kinh tế- khoa học kỹ thuật + Trình độ văn minh, văn hoá của xã hội + Cơ cấu tổ chức, luật pháp của đất nước + Nếp sống, phong tục tập quán của dân tộc. + Phương thức sản xuất của xã hội VD: - Kiến trúc của chế độ nô lệ khác kiến trúc của chế độ phong kiến Dưới chế độ phong kiến giai cấp địa chủ thống trị xã hội đề ra luật xây dựng nhà cửa Xây lầu son gác tía, cung điện, lâu đài lộng lẫy xa hoa cho mình.
Kiến trúc của dân nghèo làm nhà không được làm mái cao quá vai kiệu người đi tuần. Tạo nên một kiến trúc kiểu thành quách trên một lãnh địa riêng của quan lại, địa chủ(Giai cấp thống trị dùng đạo giáo để làm tư tưởng thống trị cho xây dựng các đền chùa, miếu mạo đồ sộ, thiên liêng, thuần bí). Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa: Kiến trúc phục vụ tư bản là dinh thự, lâu đài, công sở, nhà băng, cửa hàng.kiến trúc phục vụ người dân lao động là khu nhà “ổ chuột” trang thiết bị nghèo nàn. Dưới chế độ XHCN sự phân biệt giai cấp hầu như không còn, kiến trúc trở thành tài sản chung của xã hội.
7 Nhà ở thời tiền sử 8 Nhà lều thời kỳ xã hội Nguyên thuỷ 9 Nhà ở thời chiếm hữu nô lệ và Phong kiến Nhà ở thời phong kiến và tiền tư bản - Kiến trúc chịu ảnh hưởng rõ rệt của điều kiện thiên nhiên và khí hậu: 10 + ở một số nước trong vùng khí hậu lạnh có tuyết kiến trúc thường là tường dày, mái dốc, cửa mở cao kính 2 lớp cách nhau để chống lạnh và lấy sáng, màu sắc trang trí thường sặc sỡ, vui tươi để giảm Bốt sự buồn tẻ của bầu trời và thiên nhiên xung quanh. + Các nước có khí hậu khô nóng như vùng Trung á-Bắc phi ban ngày nhiệt độ 38- 40 C, ban đêm xuống 00C. Kiến trúc tường dày, mái dày, cửa sổ ít, mở nhỏ, màu sắc 0 thường là sáng dịu, thường có sân trong, xung quanh trồng cây cới nhiều. + Các nước vùng nhiệt Đốinóng ẩm như VN, CuBa, Inđônêxia.nhiệt độ cao, mưa nhiều, bầu trời trong sáng.kiến trúc thường trải dài, bám sát mặt đất hoặc bỏ trống tầng 1, cửa sổ thấp dài, mái vươn dài chống mưa hắt.
Nhà Vùng Bắc Bộ Nhà ở Đồng bằng Sông Cửu Long - Kiến trúc mang tính dân tộc: + Về nội dung: Bố cục mặt bằng phải phù hợp với phong tục, tập quán, tâm lý dân tộc. + Hình thức: Tổ hợp hình khối, mặt đứng, tỷ lệ chi tiết, mầu sắc, vật liệu được phới hợp để thoả mãn yêu cầu thẩm mỹ của dân tộc. 11 Nhà Vùng trung du Việt Nam Nhà đồng bằng Bắc Bộ Việt nam Đền An Dương Vương 12 Kiến trúc Pháp Quảng trường Bruxen(Vương Quốc Bỉ) Điện Kremlin( Nga) 13 2. Phương hướng: - Muốn phát triển nền kiến trúc trong nước chúng ta phải xây dựng nhiều với tốc độ nhanh để thoả mãn nhu cầu đó ta không thể xây dựng thủ công lẻ tẻ, ngành xây dựng phải được công nghiệp hoá, phải dùng máy móc thay cho sức người.
- Công nghiệp hoá ngành xây dựng gồm 3 yếu tớ: + Điển hình hoá thiết kế + Công xưởng hoá vật liệu + Cơ giới hoá thi công - Vật liệu xây dựng: Phải được nhà máy sản xuất hàng loạt, có chất lượng tốt. Nguyên vật liệu dùng máy móc chuyển ra ngoài công trường và xây dựng lên công trình. Để giải quyết được 2 khâu trên thì thiết kế phải được điển hình hoá. Thiết kế điển hình: Là công trình có nội dung, yêu cầu giống nhau, có quy mô tương đương, có khả năng vật liệu, thi công xây dựng giống nhau.
Sẽ thiết kế một số kiểu mẫu công trình thống nhất có các cấu kiện xây dựng thống nhất. Thiết kế điển hình có tác dụng rất lớn: Giảm nhiều công sức thiết kế, làm cho chất lượng thiết kế tăng lên, cung cấp nhanh chóng kịp thời hồ sơ cho cơ quan thi công tạo điều kiện cho sản xuất vật liệu xây dựng được dễ dàng và thi công nhanh chóng. Điển hình hoá thiết kế chia ra: + Điển hình hoá cấu kiện + Điển hình hoá các bộ phận công trình + Điển hình hoá từng công trình + Điển hình hoá từng khu công trình 3. Phương châm thiết kế kiến trúc: 3.
Ý nghĩa Là nội dung cơ bản thể hiện chủ trương, đường lới của Đảng và chính phủ Đốivới công tác thiết kế. Nội dung Kiến trúc luôn gắn chặt với cuộc sống con người và nó cũng theo tiến trình lịch sử loài người. Tác phẩm kliến trúc ra đời nhằm đáp ứng những nhu cầu cấp thiết của con người, của xã hội. Yêu cầu thích dụng - Bất cứ một công trình nào cũng phải đáp ứng được yêu cầu quan trọng nhất đó là thích dụng tức là phù hợp, tiện lợi cho việc sử dụng của con người.
- Đáp ứng được những nhu cầu thực tế do chức năng của công trình đề ra. - Yêu cầu thích dụng của con người thường đa dạng bởi các hoạt động của con người rất đa dạng: ăn, ở, học tập, nghiên cứu, quản lý, lao động, sản xuất, vui chơi, giải trí, mua bán, đi lại, khám chữa bệnh. - Yêu cầu thích dụng có thể thay đổi, phát triển theo từng giai đọan lịch sử của xã hội. - Phát triển theo sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật.
- Yêu cầu thích dụng còn phụ thuộc vào phong tục tập quán của từng dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, từng vùng, từng Quốc gia, lứa tuổi, giới tính. * Để đảm bảo được yêu cầu thích dụng khi tiết kế công trình cần chú ý tới: - Bố cục mặt bằng phải đảm bảo dây chuyền hoạt dộng hợp lý, thuận tiện việc đi lại hợp lý ngắn gọn, không chồng chéo. - Kích thước các phòng phù hợp với yêu cầu hoạt động, thuận tiện việc Bố trí đồ đạc, trang thiết bị bên trong gọn gàng, đẹp mắt. - Đảm bảo vệ sinh trong phòng( ánh sáng, thông hơi, thoáng gió, chống ồn, chống nóng.) tránh những điều kiện bất lợi của khí hậu.
- Đảm bảo mới quan hệ hài hoà giữa công trình với cảnh quan xung quanh. Yêu cầu bền vững - Độ bền vững của công trình: Có nghĩa là kết cấu của công trình phải chịu được sức nặng của bản thân, tải trọng bên ngoài và sự xâm thực của môi trường tác động lên nó trong quá trình thi công và sử dụng. - Độ bền vững của công trình bao gồm: + Độ bền vững của cấu kiện: chịu được tĩnh tải và hoạt tải do điều kiện tự nhiên, yêu cầu cấu kiện đó không bị phá huỷ hoặc bị biến dạng quá lớn.