Phần mở đầu, kết luận, phần danh mục từ viết tắt, danh mục tài liệu 6 tham khảo, đề tài dự kiến đƣợc trình bày theo bố cục nhƣ sau: - Chƣơng 1: Tổng quan về ngƣời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. - Chƣơng 2: Thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về ngƣời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp và kiến nghị hoàn thiện. 7 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGƢỜI ĐẠI DIỆN THEO PHÁP LUẬT CỦA DOANH NGHIỆP 1.1 Khái niệm về ngƣời đại diện theo pháp luật Dƣới góc độ thuật ngữ pháp lý, khái niệm “ngƣời đại diện theo pháp luật” đƣợc quy định khác nhau trong hệ thống pháp luật của nhiều nƣớc, cụ thể: - Luật doanh nghiệp Úc (Corporation Act 2001) sử dụng thuật ngữ “directors” để chỉ những ngƣời thay mặt cho công ty thực hiện quyền hạn của công ty, trừ những quyền hạn mà Luật này hoặc điều lệ (nếu có) yêu cầu công ty phải thực hiện trong một cuộc họp chung1. - Luật công ty Nhật Bản tiếp cận ngƣời đại diện thông qua chức năng của ngƣời quản lý, “Ngƣời quản lý có quyền thực hiện bất kỳ và tất cả hành vi tố tụng hoặc ngoài tố tụng nhân danh công ty liên quan đến hoạt động kinh doanh của công ty”2.
- Theo quy định của Luật công ty Mỹ (sửa đổi 2016) thì tất cả các hoạt động và quyền lực của công ty sẽ đƣợc thực hiện bởi hoặc dƣới quyền của hội đồng giám đốc, và hoạt động kinh doanh và công việc của công ty sẽ đƣợc quản lý bởi hoặc theo sự chỉ đạo, và chịu sự giám sát của hội đồng giám đốc.3 Thông qua các khái niệm trên, có thể kết luận rằng mặc dù đƣợc lập quy khác nhau nhƣng pháp luật doanh nghiệp của các nƣớc trên thế giới vẫn quy định các nội dung cơ bản về khái niệm ngƣời đại diện theo pháp luật là ngƣời đƣợc doanh nghiệp chỉ định để đại diện cho doanh nghiệp trong hoạt động kinh doanh và 1 Điều 198A Luật công ty Úc 2001, từ cơ sở dữ liệu http://www5.au/au/legis/cth/consol_act/ca2001172/s250d.html, truy cập ngày 21/05/2020.1 Luật công ty Nhật bản 2005, từ cơ sở dữ liệu http://www.jp/law/detail/?id=2035&vm=04&re=02, truy cập ngày 21/05/2020.01 Luật công ty Mỹ bản sửa đổi 2016, từ cơ sở dữ liệu https://www.org/content/dam/aba/administrative/business_law/corplaws/2016_mbca.pdf, truy cập ngày 21/05/2020. 8 điều hành doanh nghiệp. Pháp luật của các nƣớc có nền kinh tế thị trƣờng phát triển đều quan tâm điều chỉnh vấn đề đại diện, đặc biệt là trong vấn đề quản trị công ty (corporate governance). Công ty với tƣ cách là một pháp nhân – một thực thể pháp lý độc lập (a separate legal entity), tự bản thân nó không thể hành động cho chính mình mà chỉ có thể hành động thông qua những con ngƣời cụ thể - những ngƣời quản lý.
Do đó, công ty luôn cần có ngƣời đại diện trong giao dịch để xác lập và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình4. Bản chất của quan hệ đại diện trong doanh nghiệp là sự ủy quyền từ những chủ sở hữu cho những ngƣời quản lý công ty. Tuy nhiên, ý chí chủ sở hữu công ty chỉ trở thành ý chí của công ty khi thỏa mãn các điều kiện do pháp luật hoặc điều lệ công ty quy định thông qua một nghị quyết chung, khi đó ngƣời đại diện theo pháp luật của công ty sẽ có nghĩa vụ phải thực hiện. Pháp luật về doanh nghiệp của Việt Nam mặc dù mới thiết lập và phát triển trong thời gian ngắn, nhƣng đã tiếp thu tƣơng đối đầy đủ những giá trị tích cực của mô hình quản trị của từng loại hình công ty.
Trƣớc Luật doanh nghiệp (LDN) năm 2014 đƣợc ban hành, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam vẫn chƣa đƣa ra một định nghĩa chính thức nào về ngƣời đại diện của doanh nghiệp, khi đó những quy định về đại diện của pháp nhân tại Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2005 đƣợc áp dụng chung cho các loại hình doanh nghiệp. Theo BLDS năm 2005 thì đại diện theo pháp luật của pháp nhân do pháp luật quy định hoặc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định, ngƣời đại diện theo pháp luật của pháp nhân là ngƣời đứng đầu pháp nhân đƣợc xác định ngay trong điều lệ của pháp nhân hoặc trong quyết định thành lập pháp nhân5. Việc xác định ngƣời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp dẫn đến nhiều vấn đề cần bàn luận, đặc biệt về quy định ngƣời đại diện theo pháp luật là ngƣời đứng đầu doanh nghiệp. Thuật ngữ “ngƣời đứng đầu” thông thƣờng đƣợc sử 4 Bùi Xuân Hải (2007), “Học thuyết về đại diện và mấy vấn đề của pháp luật công ty Việt Nam”, Tạp chí Khoa học pháp lý, (4), tr11-18.
9 dụng cho đơn vị nhà nƣớc theo chế độ thủ trƣởng, dùng để chỉ hệ thống thứ bậc trong doanh nghiệp, còn đối với doanh nghiệp nơi có sự phân tách giữa quyền quản lý và quyền sở hữu thì khái niệm “ngƣời đứng đầu” dƣờng nhƣ không còn phù hợp. Trong khi đó, LDN năm 2005 không có điều khoản riêng quy định về ngƣời đại diện theo pháp luật mà các quy định để xác định ngƣời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nằm rải rác ở các điều khoản về cơ cấu tổ chức của từng loại hình doanh nghiệp nhƣ khoản 5 Điều 67, khoản 1 Điều 74 đối với công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), khoản 1 Điều 116 đối với công ty cổ phần (CTCP), khoản 1 Điều 137 đối với công ty hợp danh (CTHD), và khoản 4 Điều 143 đối với doanh nghiệp tƣ nhân (DNTN). Đồng thời việc giới hạn doanh nghiệp chỉ có một ngƣời đại diện theo pháp luật dẫn đến nhiều khó khăn trong thực tiễn, đặc biệt đối với công ty có quy mô lớn, việc quy quyền lực và trách nhiệm về một đầu mối duy nhất sẽ dẫn đến rủi ro an toàn hoạt động cho công ty. Chẳng hạn nhƣ trƣờng hợp ngƣời đại diện không đủ hiểu biết và năng lực để điều hành toàn bộ hoạt động công ty (ví dụ ngƣời đại diện không có kiến thức chuyên môn về công nghệ thông tin nhƣng lại chịu trách nhiệm về hoạt động công nghệ thông tin,…) hoặc trƣờng hợp bị khuyết ngƣời đại diện mà chƣa tìm đƣợc ngƣời thay thế thì công ty sẽ bị một khoảng thời gian trống không có đại diện theo pháp luật làm hoạt động công ty bị trì trệ.
Khắc phục khiếm khuyết này của LDN năm 2005, LDN năm 2014 đã đƣa ra định nghĩa tại Điều 13 nhƣ sau: “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trước Trọng Tài, Tòa án nhân dân và các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật.” Với khái niệm này, ngƣời đại diện theo pháp luật là những “cá nhân” nhân danh doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ rất rộng nhƣ thực hiện các giao dịch, đại diện trong quan hệ tố tụng và thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác. Bởi phạm vi đại diện của ngƣời đại diện theo pháp luật khá rộng, cho nên việc thiết lập cơ chế cho phép doanh 10 nghiệp có nhiều ngƣời đại diện theo pháp luật sẽ tạo điều kiện tốt hơn cho doanh nghiệp khi tham gia các hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, khái niệm này chỉ đề cập đến thẩm quyền “thực hiện giao dịch” không đề cập đến thẩm quyền xác lập giao dịch là vai trò then chốt của ngƣời đại diện, mặc dù có quy định mở “quyền và nghĩa vụ khác theo quy định pháp luật”, song việc không quy định điều này trong một văn bản luật chuyên ngành là một hạn chế6. Sau đó, BLDS năm 2015 không đƣa ra định nghĩa nhƣ thế nào là đại diện mà theo hƣớng liệt kê các căn cứ xác lập quyền đại diện theo pháp luật của pháp nhân tại Điều 137 bao gồm điều lệ, quy định pháp luật, quyết định của tòa án về việc chỉ định ngƣời đại diện trong tố tụng.
Đồng thời, quy định này không quy định ngƣời đại diện theo pháp luật phải là ngƣời đứng đầu doanh nghiệp, tác giả cho rằng đây là quan điểm khá tiến bộ. Ngƣời đại diện theo pháp luật là ngƣời nhân danh doanh nghiệp tham gia vào các quan hệ pháp luật và ngƣời này có thể không là ngƣời đứng đầu của doanh nghiệp. Với quy định này, BLDS năm 2015 cũng nhƣ LDN năm 2014 đã tiếp cận ngƣời đại diện theo pháp luật ở góc độ chức năng mà ngƣời đó đảm nhận chứ không phải theo cấp bậc trong công ty. Điều này cũng phù hợp với cách xác định ngƣời quản lý theo thông lệ quản trị công ty phổ biến trên thế giới.
Ngoài ra, quy định này cũng bổ sung trƣờng hợp tòa án chỉ định ngƣời đại diện cho doanh nghiệp, theo đó trong một vài trƣờng hợp, Tòa án có thẩm quyền chỉ định ngƣời đại diện theo pháp luật. Ngƣời đại diện do Tòa án chỉ định tham gia tố tụng từ khi có quyết định của Tòa án chỉ định họ đại diện cho đƣơng sự. Phạm vi tham gia tố tụng của ngƣời đại diện do Tòa án chỉ định không bị hạn chế trong các loại việc.7 Nhƣ vậy, từ những phân tích trên, có thể đƣa ra một định nghĩa khái quát về 6 Bùi Đức Giang (2015), “Hành lang pháp lý mới về người đại diện theo pháp luật của Luật doanh nghiệp 2014”, tạp chí Nhà nƣớc và Pháp luật, số 06 (326)/2015, tr. 7 Minh Nhất (2015), “Đại diện của đương sự - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn” (30/3/2015), tại website http/moj.vn, truy cập ngày 21/05/2020.
11 ngƣời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhƣ sau: Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là người do pháp luật quy định hoặc do điều lệ hoặc tòa án chỉ định, có quyền nhân danh và vì lợi ích của doanh nghiệp xác lập, thực hiện các giao dịch, công việc theo quy định tại điều lệ, quy định pháp luật, quyết định của tòa án.2 Đặc điểm của ngƣời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp Trên cơ sở phân tích định nghĩa ngƣời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, có thể suy ra một số đặc điểm cơ bản về ngƣời đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp nhƣ sau: (1) Người đại diện theo pháp luật phải là cá nhân và cá nhân này phải đáp ứng một số điều kiện nhất dịnh do luật định. BLDS năm 2015 ngƣời đại diện theo pháp luật của pháp nhân có thể là cá nhân hoặc pháp nhân nhƣng theo yêu cầu đƣợc chỉ ra tại Điều 13 LDN năm 2014 thì ngƣời đại diện theo pháp luật bắt buộc phải là cá nhân.