Chương 1 “Quốc gia tầm trung và định hướng ngoại giao chuyên biệt ‐ Hàm ý với Việt Nam đến năm 2030” do TS. Vũ Lê Thái Hoàng và TS. Đỗ Thị Thủy viết, thiết lập khung lý thuyết và phân tích cho toàn bộ cuốn sách; làm rõ khái niệm, LỜI TỰA 19 đặc thù chính sách và hành vi của quốc gia tầm trung trong hệ thống quan hệ quốc tế, từ đó chỉ ra ngoại giao chuyên biệt là lựa chọn phù hợp, khả thi và là hành vi đặc trưng của các quốc gia tầm trung nhằm phục vụ hiệu quả mục tiêu an ninh, phát triển, nâng cao vị thế quốc tế; phân tích và rút ra kinh nghiệm từ bài học thành công của Canađa, Na Uy, Xingapo. Chương này kết luận ngoại giao chuyên biệt với cách tiếp cận hợp xu thế, chọn lọc, linh hoạt, có trọng tâm, trọng điểm, thông qua 2 phương thức chủ yếu là lồng ghép chính sách và phối hợp triển khai liên ngành sẽ là sự bổ sung, nâng tầm và tăng tính hiệu quả cho tổng thể các hoạt động ngoại giao Việt Nam nói riêng và đối ngoại Việt Nam nói chung.
Do đó, ngoại giao chuyên biệt cần và phải là hướng đi, ưu tiên mới của ngoại giao Việt Nam đến năm 2030, góp phần hoạch định, triển khai Chiến lược phát triển kinh tế ‐ xã hội 2021‐2030 và Chiến lược đối ngoại đến năm 2030. Chương 2 “Xây dựng lòng tin và nền tảng hợp tác trong chính sách đối ngoại của quốc gia tầm trung” do TS. Vũ Lê Thái Hoàng viết, đề cao “lòng tin” và các biện pháp xây dựng lòng tin, nhất là lòng tin chiến lược, cần là thông điệp nhất quán, xuyên suốt trong chính sách đối ngoại của một quốc gia tầm trung, tạo tiền đề và nền tảng lâu dài, vững chắc trong xây dựng và mở rộng mạng lưới hợp tác ngoại giao chuyên biệt với các nước lớn, các nước tầm trung, các nước nhỏ hơn, trong các cơ chế khu vực và toàn cầu. Chương này làm rõ khái niệm “lòng tin” và “quan hệ tin cậy lẫn nhau”, 5 cấp độ lòng tin trong quan hệ giữa các nước, các nhân tố tác động đến lòng tin, và 3 nhóm biện pháp chính để tăng cường lòng tin và quan hệ tin cậy lẫn nhau.
Dựa trên khung 20 NGOẠI GIAO CHUYÊN BIỆT: HƯỚNG ĐI, ƯU TIÊN MỚI. lý thuyết và phân tích trường hợp hòa giải, xây dựng lòng tin giữa Pháp và Đức, trong ASEAN, Chương II đề xuất một số biện pháp tăng cường xây dựng lòng tin trong chính sách đối ngoại Việt Nam thời gian tới. Chương 3 “Ngoại giao trung gian hòa giải” do TS. Vũ Lê Thái Hoàng và TS.
Đỗ Thị Thủy viết, đi sâu phân tích cơ sở lý thuyết của chủ trương mới trong Chỉ thị số 25‐CT/TW (ngày 08/8/2018) của Ban Bí thư về vai trò “nòng cốt, dẫn dắt, hòa giải” trong các diễn đàn, tổ chức đa phương có tầm quan trọng chiến lược, phù hợp với khả năng và điều kiện cụ thể của Việt Nam. Chương này làm rõ khái niệm, điều kiện, quy trình, kết quả của quá trình trung gian hòa giải nói chung (ở 3 cấp độ trung gian, hòa giải và trung gian hòa giải) cũng như vai trò, thế mạnh trung gian hòa giải của các quốc gia tầm trung trong quan hệ quốc tế; phân tích ví dụ thực tiễn và câu chuyện thành công của Ôxtrâylia và Inđônêxia, qua đó liên hệ và đưa ra một số hàm ý chính sách với Việt Nam. Chương 4 “Ngoại giao số” do TS. Vũ Lê Thái Hoàng và CN.
Nguyễn Đức Huy viết, đề cập một vấn đề khá mới mẻ nhưng rất thời sự và cần thiết của ngoại giao Việt Nam trong bối cảnh cả thế giới đang chuyển mình thích ứng và nắm bắt những cơ hội to lớn do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mang lại, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ số, công nghệ thông tin. Chương này tiếp cận ngoại giao số từ cả góc độ lý thuyết (khái niệm, tầm quan trọng, đặc điểm) và kinh nghiệm thực tiễn của một số quốc gia đi trước (Mỹ, Trung Quốc, Thụy Điển, các nước ASEAN như Inđônêxia, Xingapo), LỜI TỰA 21 từ đó gợi mở hàm ý chính sách cho phương thức ngoại giao số ở Việt Nam trong thời đại cách mạng công nghiệp 4. Chương 5 “Ngoại giao công chúng” do TS. Vũ Lê Thái Hoàng viết, không phải là câu chuyện mới của quốc tế nhưng là thực tiễn và yêu cầu mới của ngoại giao Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng và cách mạng số, Internet và công nghệ thông tin.
Chương này cho thấy ngoại giao công chúng là sự bổ trợ và nâng tầm quan trọng cho tổng thể các hoạt động đối ngoại của một quốc gia, nhất là trong công tác thông tin và văn hóa đối ngoại, đòi hỏi phải có sự đầu tư và tổ chức bài bản, chuyên nghiệp về nhân lực, vật lực, bộ máy, tăng cường phối hợp giữa các chủ thể nhà nước và phi nhà nước, ứng dụng hiệu quả công nghệ số, công nghệ thông tin. Chương 6 “Ngoại giao năng lượng” do TS. Vũ Lê Thái Hoàng và ThS. Hàn Lam Giang viết, đánh giá tầm quan trọng chiến lược của an ninh năng lượng với an ninh, phát triển kinh tế của các quốc gia, qua đó nêu bật vai trò, đóng góp của hoạt động đối ngoại vào nỗ lực bảo đảm an ninh năng lượng bền vững.
Chương này cung cấp khung phân tích lý thuyết về an ninh năng lượng (truyền thống và phi truyền thống), địa ‐ chính trị năng lượng, tính tùy thuộc lẫn nhau trong các cơ chế hợp tác quốc tế về năng lượng, vai trò của ngoại giao năng lượng trong chính sách đối ngoại của các quốc gia. Dựa trên tham khảo kinh nghiệm của Mỹ, Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, Inđônêxia, chương này đánh giá ngoại giao năng lượng giúp ngoại giao Việt Nam đạt được các mục tiêu về chính trị, chiến lược, an ninh quốc gia, hội nhập quốc tế, ngoại giao kinh tế, từ đó gợi mở một số biện 22 NGOẠI GIAO CHUYÊN BIỆT: HƯỚNG ĐI, ƯU TIÊN MỚI. pháp triển khai ngoại giao năng lượng thời gian tới, góp phần triển khai hiệu quả Nghị quyết số 55‐NQ/TW, ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Chương 7 “Ngoại giao nước” do TS.
Tô Thu Minh viết, đề cập vai trò của ngoại giao trong thúc đẩy hợp tác quản lý và sử dụng bền vững nguồn nước các dòng sông trên thế giới dựa trên cơ sở lý thuyết về an ninh nguồn nước và ngoại giao nước (đặc điểm về mục tiêu, chủ thể, công cụ, hình thức, mối quan hệ giữa an ninh nguồn nước ‐ an ninh năng lượng ‐ an ninh lương thực) kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn của một số nước và tổ chức quốc tế như Ấn Độ, Thái Lan, EU, Tiểu vùng Mê Công (ngoại giao nước cần có tin cậy chính trị và sự hỗ trợ của một bên trung gian, cách tiếp cận mang tính toàn diện, liên ngành, có sự tham gia rộng rãi của các chủ thể nhà nước và phi nhà nước, các thỏa thuận cần có tính ràng buộc cao). Chương này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc quản lý, sử dụng bền vững nguồn nước sông Mê Công, và đưa ra một số gợi mở chính sách ngoại giao nước cho Việt Nam như tăng cường phối hợp liên ngành, đẩy mạnh vai trò tại các cơ chế khu vực, tiểu vùng, hợp tác nhóm, đẩy mạnh trao đổi, chia sẻ thông tin, hợp tác pháp lý, kêu gọi sự hỗ trợ kỹ thuật, tài chính từ các quốc gia, tổ chức quốc tế. Chương 8 “Ngoại giao y tế” do TS. Vũ Lê Thái Hoàng và ThS.
Lê Trung Kiên viết, cho thấy lĩnh vực y tế từ lâu đã là một nhân tố được các nước tính đến trong tổng thể chính LỜI TỰA 23 sách đối ngoại và là một trong những chương trình nghị sự hàng đầu của các tổ chức quốc tế, nhất là sau các cuộc khủng hoảng dịch bệnh như SARS năm 2003, Ebola năm 2016 và mới đây nhất là COVID‐19. Chương này làm rõ lịch sử phát triển, nội hàm khái niệm và nội dung hoạt động của ngoại giao y tế, đồng thời phân tích bài học kinh nghiệm của Mỹ, Nhật Bản và Cuba. Thành công kiểm soát và đẩy lùi dịch COVID‐19 vừa qua cho thấy Việt Nam với truyền thống, tiềm năng và thế mạnh trong lĩnh vực y tế có cơ hội lớn để thúc đẩy ngoại giao y tế như một hình thức ngoại giao chuyên biệt thông qua lồng ghép chính sách, đồng hành và hỗ trợ ngành y tế tăng cường hợp tác và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực y tế. Chương 9 “Ngoại giao vì bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ” do TS.
Vũ Lê Thái Hoàng và TS. Nguyễn Hoàng Như Thanh là chủ đề nghiên cứu khá mới ở Việt Nam, nhất là nhìn nhận qua cách tiếp cận của ngoại giao chuyên biệt, song đối với nhiều nước và tổ chức quốc tế là ưu tiên truyền thống trong chính sách đối ngoại và chương trình nghị sự, phản ánh sự lớn mạnh của phong trào thúc đẩy bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ trên toàn thế giới. Truyền thống và những thành tựu nổi bật đạt được trong vấn đề giới, sẽ là cầu nối hợp tác tự nhiên và hiệu quả giữa Việt Nam với các nước đối tác, và là chủ đề Việt Nam có thể phát huy sáng kiến, vai trò dẫn dắt tại các diễn đàn khu vực, toàn cầu, nhất là khi đang giữ những trọng trách quốc tế như Chủ tịch ASEAN năm 2020, Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020‐2021. Chương này cũng làm sáng tỏ cơ sở lý thuyết của hình thức ngoại giao về 24 NGOẠI GIAO CHUYÊN BIỆT: HƯỚNG ĐI, ƯU TIÊN MỚI.
giới (chủ nghĩa vị nữ, phụ nữ và phát triển, phụ nữ và hòa bình, an ninh quốc tế, phụ nữ trong chính sách đối ngoại và hoạt động ngoại giao các nước) và một số mô hình của Mỹ, Thụy Điển, Canađa, Pháp, từ đó đưa ra một số hàm ý chính sách cho Việt Nam. Cuốn sách từ lúc hình thành ý tưởng, triển khai nghiên cứu đến khi xuất bản đã nhận được sự ủng hộ, động viên to lớn của gia đình, đồng nghiệp, bạn bè. Đây cũng là kết tinh lao động miệt mài, say mê, cộng tác chuyên nghiệp của nhóm tác giả trong gần một năm qua, là động lực để tiếp tục chinh phục những thử thách mới trên con đường nghiên cứu đầy chông gai nhưng thú vị. Nội dung sách là quan điểm riêng của nhóm tác giả.
Chúng tôi xin dành tặng cuốn sách này như một món quà tri ân đến tất cả và mong muốn cuốn sách được đón nhận nhiệt thành, trân trọng.