Tổng quan nghiên cứu
Thực hiện công bằng xã hội trong giáo dục là một trong những định hướng chiến lược hàng đầu của Đảng và Nhà nước Việt Nam, được khẳng định xuyên suốt trong Nghị quyết số 29-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI. Tại tỉnh Cao Bằng, địa bàn miền núi biên giới phía Đông Bắc với 139 trên tổng số 199 xã thuộc khu vực III (chiếm 69,8%) và 1.598 thôn, xóm đặc biệt khó khăn, việc bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục cho học sinh trung học phổ thông gặp rất nhiều trở ngại. Địa hình đồi núi hiểm trở chiếm hơn 90% diện tích tự nhiên, kết hợp với mức thu nhập bình quân đầu người của tỉnh chỉ đạt khoảng 54% so với bình quân chung cả nước, đã tạo ra áp lực kinh tế nặng nề lên các hộ gia đình đồng bào dân tộc thiểu số.
Trước thực trạng đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 116/2016/NĐ-CP ngày 18 tháng 7 năm 2016 quy định chính sách hỗ trợ học sinh và trường phổ thông ở xã, thôn đặc biệt khó khăn. Chính sách này cung cấp các gói hỗ trợ trực tiếp gồm tiền ăn hàng tháng bằng 40% mức lương cơ sở, tiền hỗ trợ nhà ở bằng 10% mức lương cơ sở và 15 kg gạo mỗi tháng trong thời gian tối đa 9 tháng mỗi năm học. Tuy nhiên, việc chuyển hóa các định mức hỗ trợ này vào thực tiễn giáo dục trung học phổ thông tại Cao Bằng vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về cơ chế vận hành, khoảng cách địa lý và quy trình giải ngân.
Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là hệ thống hóa cơ sở lý luận về thực thi chính sách công trong lĩnh vực giáo dục, khảo sát toàn diện thực trạng triển khai chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông tại các xã đặc biệt khó khăn trên địa bàn tỉnh Cao Bằng trong giai đoạn 3 năm học từ năm học 2017–2018 đến năm học 2019–2020. Trên cơ sở nhận diện các rào cản thực tiễn, luận văn đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả thực thi chính sách, bảo đảm đúng đối tượng thụ hưởng, góp phần kéo giảm tỷ lệ học sinh nghèo bỏ học (vốn chiếm tới 77,9% tổng số học sinh bỏ học trong năm học 2018–2019) và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng cao.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết áp dụng
Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết chu trình chính sách công của các học giả William Jenkins và James Anderson, kết hợp với các quan điểm hiện đại về quản trị công. Quy trình thực thi chính sách được tiếp cận như một chuỗi hành động có mục đích của các cơ quan hành chính nhà nước nhằm chuyển hóa ý chí chính trị thành hiện thực sinh động, bao gồm ba giai đoạn cốt lõi: hoạch định chính sách, tổ chức thực thi chính sách và đánh giá chính sách. Quá trình tổ chức thực thi được cấu thành từ 7 nội dung nghiệp vụ: xây dựng kế hoạch, phổ biến tuyên truyền, phân công phối hợp, duy trì chính sách, điều chỉnh chính sách, đôn đốc kiểm tra và tổng kết rút kinh nghiệm.
Bên cạnh lý thuyết chính sách công, nghiên cứu ứng dụng lý thuyết công bằng xã hội trong giáo dục để phân tích cơ chế phân bổ nguồn lực công ích cho các nhóm xã hội yếu thế. Ba khái niệm nền tảng được chuẩn hóa trong luận văn bao gồm:
- Chính sách công trong giáo dục: Tập hợp các quyết định có tính quy phạm của Nhà nước nhằm định hướng, phân bổ nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và con người để giải quyết các vấn đề giáo dục.
- Xã đặc biệt khó khăn (Xã khu vực III): Đơn vị hành chính cấp xã miền núi, vùng dân tộc thiểu số đáp ứng các tiêu chí quy định tại Quyết định số 50/2016/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, có tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo từ 65% trở lên và hạ tầng thiết yếu chưa hoàn thiện.
- Chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông xã đặc biệt khó khăn: Cơ chế trợ cấp có mục tiêu của Chính phủ theo Nghị định 116/2016/NĐ-CP nhằm hỗ trợ tiền ăn, tiền nhà ở và lương thực cho học sinh cư trú tại xã khu vực III, thôn đặc biệt khó khăn đang theo học cấp trung học phổ thông.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận đa chiều, kết hợp chặt chẽ giữa phân tích dữ liệu thứ cấp và thu thập dữ liệu sơ cấp thực chứng trong suốt khung thời gian từ năm 2017 đến năm 2020:
- Nguồn dữ liệu thứ cấp: Thu thập từ các văn kiện, nghị quyết của Đảng, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định 116/2016/NĐ-CP, Nghị định 86/2015/NĐ-CP, Nghị quyết 91/2016/NQ-HĐND tỉnh Cao Bằng); các báo cáo tổng kết năm học công khai trên Cổng thông tin điện tử tỉnh Cao Bằng, Phòng Giáo dục Trung học và Phòng Kế hoạch - Tài chính thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Cao Bằng.
- Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu điều tra sơ cấp: Luận văn áp dụng phương pháp chọn mẫu chuyên gia có chủ đích (purposive sampling) với cỡ mẫu khảo sát gồm 58 cán bộ, nhà giáo trực tiếp tham gia chu trình tổ chức thực thi chính sách tại địa phương. Cấu trúc mẫu gồm 02 cán bộ chuyên môn thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Cao Bằng, 28 Hiệu trưởng và 28 Giáo viên chủ nhiệm đại diện cho 30 trường trung học phổ thông trên toàn tỉnh. Lý do lựa chọn cỡ mẫu này nhằm đảm bảo tính đại diện cao, kết hợp góc nhìn quản lý vĩ mô của cấp Sở và kinh nghiệm thực tiễn sâu sát của đội ngũ quản lý, giáo viên trực tiếp xét duyệt hồ sơ tại cơ sở.
- Phương pháp xử lý và phân tích dữ liệu: Áp dụng phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian đối chiếu dữ liệu qua 3 năm học (2017–2018, 2018–2019, 2019–2020), và phương pháp tổng hợp - đánh giá định tính kết hợp định lượng dựa trên thang đo mức độ thực hiện 7 nội dung chính sách.
Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Những phát hiện chính
Thứ nhất, quy mô mạng lưới trường lớp và học sinh thụ hưởng duy trì ổn định nhưng áp lực quản lý học sinh dân tộc thiểu số rất lớn. Trong giai đoạn 2017–2020, toàn tỉnh Cao Bằng duy trì ổn định mạng lưới 30 trường trung học phổ thông (trong đó có 22 trường trung học phổ thông độc lập, 06 trường trung học phổ thông có khối trung học cơ sở, 01 trường Chuyên và 01 trường Phổ thông Dân tộc Nội trú tỉnh). Quy mô học sinh dao động từ 12.214 đến 12.681 em, với tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số chiếm từ 96,2% đến 97,0% qua các năm học. Tỷ lệ giáo viên trên lớp đạt từ 2,1 đến 2,3 giáo viên/lớp, bảo đảm biên chế giảng dạy nhưng đặt ra yêu cầu rất cao về công tác quản trị đời sống bán trú.
Thứ hai, công tác phân công phối hợp và kiểm tra giám sát đạt mức độ đồng thuận rất cao. Kết quả khảo sát 58 cán bộ quản lý và giáo viên cho thấy 82,7% đánh giá công tác phân công tổ chức thực hiện rõ ràng, gắn trách nhiệm và quyền hạn ở mức Tốt; 17,3% đánh giá mức Khá và 0% đánh giá mức Trung bình hoặc Yếu. Tương tự, hoạt động phối hợp giữa các phòng ban thuộc Sở và nhà trường đạt 79,0% mức Tốt và 21,0% mức Khá. Hoạt động thanh tra, kiểm tra giám sát được 94,5% đối tượng khảo sát ghi nhận thực hiện thường xuyên và 86,0% đánh giá bảo đảm đầy đủ các nội dung kiểm tra theo quy định pháp lý.
Thứ ba, sự phân hóa sâu sắc về tỷ lệ học sinh bỏ học theo địa hình và mức sống gia đình. Báo cáo thống kê của Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Cao Bằng chỉ ra rằng tỷ lệ học sinh bỏ học thuộc diện hộ nghèo và cận nghèo chiếm tỷ trọng rất cao và có xu hướng gia tăng: năm học 2017–2018 là 252/417 học sinh bỏ học (chiếm 60,4%), đến năm học 2018–2019 tăng vọt lên 300/385 học sinh bỏ học (chiếm 77,9%). Tại các trường vùng cao có giao thông chia cắt, tỷ lệ học sinh bỏ học ở mức rất đáng báo động: Trường THPT Bảo Lâm có tỷ lệ bỏ học 10,9%, Trường THPT Lý Bôn 7,3%, Trường THPT Thông Nông 6,9%, Trường THPT Đàm Quang Trung 6,0%. Ngược lại, các trường khu vực trung tâm thuận lợi có tỷ lệ bỏ học rất thấp: Trường THPT Thành phố Cao Bằng chỉ 0,5%, Trường THPT Quảng Uyên 0,8%, Trường THPT Cao Bình 0,9%.
Thứ tư, bất cập lớn về tiến độ cấp phát kinh phí và tính linh hoạt của quy định chính sách. Khảo sát thực tế chỉ ra rằng có tới 84,5% cán bộ tham gia điều tra đánh giá tính linh hoạt và khả năng điều chỉnh chính sách theo từng thời kỳ chỉ dừng ở mức Trung bình/Khá. Tình trạng chậm giải ngân diễn ra phổ biến: kinh phí hỗ trợ tiền ăn, tiền nhà ở và gạo học kỳ 1 thường bị dồn đến tháng 12 mới được cấp bổ sung, và kinh phí học kỳ 2 phải đến tháng 4 mới giải ngân về trường. Điều này tạo áp lực kinh tế rất lớn cho các cơ sở giáo dục trong việc duy trì bữa ăn bán trú cho học sinh.
Thảo luận kết quả
Nguyên nhân căn bản dẫn đến sự chênh lệch tỷ lệ bỏ học giữa các cụm trường bắt nguồn từ rào cản khoảng cách địa lý và giao thông cách trở. Học sinh tại các xã như Vĩnh Phong, Đức Hạnh, Yên Thổ thuộc huyện Bảo Lâm phải di chuyển từ 35 đến 40 km đường đèo dốc, sạt lở để đến trường THPT Bảo Lâm; học sinh xã Cô Ba, Cốc Pàng cách trường THPT Bảo Lạc 36 đến 40 km; học sinh xã Lũng Nặm, Tổng Cọt cách trường THPT Đàm Quang Trung từ 35 đến 40 km. Khi hạ tầng giao thông chưa được nhựa hóa và địa hình qua nhiều sông suối không có cầu, chi phí và rủi ro đi lại làm triệt tiêu động lực đến lớp nếu không có chỗ ở bán trú kiên cố.
Dữ liệu nghiên cứu thực trạng có thể được hệ thống hóa trực quan thông qua biểu đồ cột so sánh tương quan giữa tỷ lệ học sinh bỏ học và khoảng cách địa lý giữa các cụm trường huyện biên giới (Bảo Lâm 10,9%) so với khu vực đô thị (Thành phố Cao Bằng 0,5%). Đồng thời, bảng tổng hợp đánh giá 7 bước thực thi chính sách làm nổi bật nghịch lý: trong khi khâu ban hành kế hoạch (65% Tốt) và tuyên truyền (70% Tốt) vận hành trơn tru, thì khâu duy trì cấp phát tài chính và điều chỉnh tiêu chí lại là mắt xích yếu nhất.
So sánh với các nghiên cứu thực hiện chính sách giáo dục tại khu vực Tây Nguyên hoặc các tỉnh miền núi phía Bắc cho thấy những bất cập tại Cao Bằng mang tính điển hình của vùng lõi nghèo. Quy định cứng nhắc về khoảng cách "từ 4,5 km trở lên tính từ nhà đến trường phổ thông gần nhất" theo Nghị quyết số 91/2016/NQ-HĐND chưa sát thực tế vì trường gần nhất có thể không có chỉ tiêu tuyển sinh hoặc không phù hợp với phân tuyến đào tạo, khiến nhiều học sinh thực tế phải đi học xa nhưng không đủ điều kiện xét duyệt hỗ trợ theo Nghị định 116/2016/NĐ-CP.
Đề xuất và khuyến nghị
Nhằm hoàn thiện quy trình thực thi chính sách và nâng cao tỷ lệ học sinh duy trì việc học, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp trọng tâm:
- Điều chỉnh tiêu chí xác định đối tượng thụ hưởng và hoàn thiện khung pháp lý địa phương: Sở Giáo dục và Đào tạo phối hợp với Sở Tư pháp tham mưu cho Hội đồng nhân dân tỉnh Cao Bằng sửa đổi Nghị quyết số 91/2016/NQ-HĐND. Cần điều chỉnh tiêu chí khoảng cách từ "tính từ nhà đến trường phổ thông gần nhất" thành "tính từ nhà đến trường phổ thông nơi học sinh thực tế theo học"; bổ sung nhóm đối tượng học sinh thuộc hộ nghèo, cận nghèo theo tiêu chí thu nhập vào diện hưởng trợ cấp bán trú. Mục tiêu nâng độ bao phủ đối tượng học sinh khó khăn thực tế lên thêm 15% đến 20% trong giai đoạn 2021–2025.
- Cải cách quy trình phân bổ tài chính và bảo đảm tiến độ giải ngân: Sở Tài chính phối hợp cùng Kho bạc Nhà nước tỉnh Cao Bằng và Ủy ban nhân dân các huyện thiết lập cơ chế cấp ứng ngân sách định kỳ hàng tháng cho các trường trung học phổ thông. Bảo đảm chi trả tiền ăn (40% mức lương cơ sở) và cấp phát 15 kg gạo/tháng trước ngày 10 của tháng học, chấm dứt hoàn toàn tình trạng chậm giải ngân sang tháng 12 và tháng 4. Chỉ tiêu 100% các trường trung học phổ thông có học sinh thụ hưởng nhận kinh phí đúng tiến độ từ năm học 2021–2022.
- Đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất khu bán trú và công trình phụ trợ: Ủy ban nhân dân tỉnh Cao Bằng ưu tiên lồng ghép nguồn vốn từ các Chương trình mục tiêu quốc gia để xây dựng hệ thống phòng ở bán trú, bếp ăn tập thể, công trình vệ sinh và nước sạch tại các trường có tỷ lệ học sinh ở xa cao như THPT Bảo Lâm, THPT Bảo Lạc, THPT Thông Nông. Thực hiện đầy đủ định mức khoán phục vụ nấu ăn bằng 135% mức lương cơ sở/tháng/30 học sinh, định mức trang bị đồ dùng sinh hoạt 100.000 đồng/học sinh/năm và tủ thuốc y tế 50.000 đồng/học sinh/năm; phấn đấu giảm tỷ lệ học sinh trung học phổ thông bỏ học toàn tỉnh xuống dưới 2,0% vào năm 2025.
- Đổi mới phương thức tuyên truyền và tăng cường phối hợp liên ngành sau sáp nhập địa giới: Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các trường học phối hợp chặt chẽ với Ủy ban nhân dân các xã khu vực III biên soạn tài liệu tuyên truyền chính sách bằng cả tiếng phổ thông và tiếng đồng bào dân tộc thiểu số (Tày, Nùng, Mông, Dao). Thiết lập tổ công tác rà soát định danh các thôn, xã mới sau khi tỉnh thực hiện sáp nhập các huyện (Hà Quảng, Quảng Hòa, Trùng Khánh) trong năm 2020 để không bỏ sót học sinh thuộc diện chính sách.
Đối tượng nên tham khảo luận văn
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:
- Cơ quan quản lý nhà nước và nhà hoạch định chính sách giáo dục: Các đơn vị chức năng thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân và Sở Giáo dục và Đào tạo các tỉnh miền núi có thể sử dụng các số liệu thực chứng và đề xuất cơ chế của luận văn làm căn cứ sửa đổi, bổ sung các nghị định, thông tư hướng dẫn thực thi chính sách hỗ trợ học sinh vùng khó khăn.
- Cán bộ quản lý và giáo viên các trường trung học phổ thông vùng cao: Đội ngũ Hiệu trưởng, cán bộ tài vụ và giáo viên chủ nhiệm có thể tham khảo quy trình 7 bước tổ chức thực thi chính sách, phương pháp rà soát đối tượng và cách thức xây dựng hồ sơ xét duyệt minh bạch, hạn chế khiếu nại tại cơ sở.
- Học viên cao học, nghiên cứu sinh và nhà nghiên cứu học thuật: Những người theo học chuyên ngành Quản lý công, Chính sách công, Quản lý giáo dục và Xã hội học có thể khai thác khung lý thuyết, hệ thống bảng hỏi khảo sát 58 khách thể và phương pháp luận đánh giá chính sách giáo dục dân tộc thiểu số phục vụ các công trình nghiên cứu mở rộng.
- Các tổ chức phi chính phủ và quỹ bảo trợ xã hội: Các tổ chức hoạt động vì mục tiêu phát triển cộng đồng và bình đẳng giáo dục có thể sử dụng dữ liệu về tỷ lệ học sinh nghèo bỏ học (chiếm 77,9%) tại các địa bàn khó khăn của Cao Bằng để xây dựng các dự án tài trợ học bổng, xây dựng nhà bán trú dân sinh đúng địa chỉ cần hỗ trợ.
Câu hỏi thường gặp
Chính sách theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP hỗ trợ những định mức cụ thể nào cho học sinh trung học phổ thông xã đặc biệt khó khăn?
Mỗi học sinh đáp ứng đủ điều kiện theo quy định được hỗ trợ tiền ăn hàng tháng bằng 40% mức lương cơ sở, tiền nhà ở bằng 10% mức lương cơ sở (nếu phải tự túc thuê chỗ ở ngoài trường), và 15 kg gạo mỗi tháng. Tất cả các khoản trợ cấp trên được chi trả theo thời gian học tập thực tế nhưng không quá 9 tháng cho mỗi năm học.
Tại sao tỷ lệ học sinh bỏ học tại huyện Bảo Lâm lại cao hơn rất nhiều so với khu vực thành phố Cao Bằng?
Theo số liệu thống kê năm học 2018–2019, trường THPT Bảo Lâm có tỷ lệ học sinh bỏ học lên tới 10,9%, trong khi trường THPT Thành phố Cao Bằng chỉ có 0,5%. Nguyên nhân chính là do học sinh tại các xã vùng sâu của huyện Bảo Lâm như Vĩnh Phong, Đức Hạnh phải di chuyển quãng đường từ 35 đến 40 km qua địa hình đồi núi hiểm trở, kinh tế gia đình khó khăn buộc các em phải nghỉ học để lao động phụ giúp gia đình.
Bất cập lớn nhất trong quy định xác định khoảng cách địa lý thụ hưởng chính sách tại Cao Bằng là gì?
Quy định khoảng cách "từ 4,5 km trở lên đối với học sinh trung học phổ thông, tính từ nhà đến trường phổ thông gần nhất" tại Nghị quyết số 91/2016/NQ-HĐND đã loại trừ nhiều học sinh có hoàn cảnh khó khăn nhưng phải theo học tại trường xa hơn do phân luồng tuyển sinh hoặc trường gần nhà không đủ chỉ tiêu tiếp nhận.
Thực trạng chậm giải ngân kinh phí hỗ trợ học sinh tại tỉnh Cao Bằng diễn ra như thế nào?
Trong quá trình triển khai, việc phân bổ ngân sách thường bị dồn vào cuối kỳ: kinh phí hỗ trợ tiền ăn, tiền nhà ở và gạo của học kỳ 1 đến tháng 12 mới được cấp bổ sung, và kinh phí học kỳ 2 phải đến tháng 4 mới được chuyển về các trường. Sự chậm trễ này gây áp lực rất lớn lên công tác tổ chức nấu ăn tập trung và ổn định đời sống bán trú của học sinh.
Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát trong luận văn được thực hiện như thế nào?
Tác giả đã áp dụng phương pháp chọn mẫu chuyên gia với cỡ mẫu 58 cán bộ trực tiếp thực thi chính sách trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, bao gồm 02 cán bộ chuyên quản thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo, 28 Hiệu trưởng và 28 Giáo viên chủ nhiệm đại diện cho 30 trường trung học phổ thông, bảo đảm tính xác thực và chiều sâu thực tiễn cho các kết luận nghiên cứu.
Kết luận
- Bảo đảm công bằng giáo dục: Luận văn đã phân tích toàn diện vai trò của chính sách hỗ trợ theo Nghị định số 116/2016/NĐ-CP đối với hơn 12.000 học sinh trung học phổ thông (với 96,2% đến 97,0% là đồng bào dân tộc thiểu số) trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
- Nhận diện nguy cơ bỏ học: Dữ liệu nghiên cứu khẳng định học sinh thuộc hộ nghèo và cận nghèo chiếm tới 77,9% tổng số học sinh bỏ học (năm học 2018–2019), tập trung chủ yếu tại các trường có địa hình chia cắt mạnh với khoảng cách đi học từ 35 đến 40 km như THPT Bảo Lâm (10,9%) và THPT Lý Bôn (7,3%).
- Đánh giá thực thi chính sách: Khảo sát 58 cán bộ chỉ ra sự phối hợp liên ngành đạt mức tốt (79,0% đến 82,7%) và thanh tra thường xuyên (94,5%), nhưng khâu giải ngân tài chính và tính linh hoạt của chính sách còn hạn chế (84,5% đánh giá mức trung bình/khá).
- Hệ thống giải pháp thực thi: Đề xuất 4 nhóm giải pháp đồng bộ gồm sửa đổi Nghị quyết số 91/2016/NQ-HĐND về tiêu chí khoảng cách, cải cách quy trình cấp phát ngân sách hàng tháng, đầu tư hạ tầng bán trú và cập nhật danh mục địa bàn sau sáp nhập huyện, xã.
- Định hướng hành động tiếp theo: Các cấp quản lý cần khẩn trương hoàn thiện thể chế hỗ trợ giáo dục vùng khó khăn, hướng tới mục tiêu kéo giảm tỷ lệ học sinh trung học phổ thông bỏ học trên địa bàn tỉnh Cao Bằng xuống dưới 2,0% vào năm 2025.
Độc giả quan tâm đến công tác quản lý công, chính sách phát triển giáo dục miền núi và bình đẳng xã hội có thể liên hệ các cơ quan chuyên môn hoặc thư viện cơ sở đào tạo để tiếp cận toàn văn công trình nghiên cứu, từ đó vận dụng hiệu quả các mô hình phân tích và giải pháp thực tiễn vào bối cảnh địa phương mình.