Khóa luận tốt nghiệp Y tế: Ngô thị thủy tiên phân tích nhận thức và đóng

Khóa luận phân tích vai trò người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc Hà Nội của Ngô Thị Thủy Tiên, chuyên ngành Dược sĩ.

Chuyên ngành

Dược

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2018

78
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về Ngô Thị Thủy Tiên và đề tài khóa luận

Ngô Thị Thủy Tiên là tác giả của khóa luận tốt nghiệp Dược sĩ tại Trường Đại học Dược Hà Nội năm 2018. Đề tài khóa luận của cô tập trung vào phân tích nhận thức và đóng góp của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính tại một số nhà thuốc ở Hà Nội. Nghiên cứu này được thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Đỗ Xuân ThắngThS. Lê Thu Thủy, những chuyên gia hàng đầu trong lĩnh vực quản lý và kinh tế dược. Khóa luận đã khám phá vai trò quan trọng của người bán lẻ thuốc trong hệ thống chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt là trong quản lý bệnh mạn tính ở cộng đồng.

1.1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu

Bệnh mạn tính đang là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong tại Việt Nam, với 7 trong 10 ca tử vong là do bệnh mạn tính. Dự kiến vào năm 2020, bệnh mạn tính sẽ chiếm gần 75% tổng số ca tử vong trên toàn thế giới. Do đó, quản lý bệnh mạn tính trở thành ưu tiên hàng đầu trong chăm sóc sức khoẻ. Người bán lẻ thuốc đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng, có cơ hội tiếp xúc thường xuyên với bệnh nhân, tạo điều kiện tối ưu cho can thiệp và quản lý bệnh mạn tính.

1.2. Mục tiêu và ý nghĩa của nghiên cứu

Nghiên cứu nhằm phân tích nhận thức của người bán lẻ thuốc về vai trò của họ trong quản lý bệnh mạn tính. Đồng thời, khóa luận đánh giá đóng góp thực tế của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc. Kết quả nghiên cứu cung cấp dữ liệu khoa học để xây dựng chiến lược nâng cao nhận thức và kỹ năng của người bán lẻ thuốc trong quản lý và chăm sóc bệnh nhân mạn tính.

II. Bệnh mạn tính và thực trạng quản lý tại Việt Nam

Bệnh mạn tính (BMT) là những bệnh tiến triển chậm, kéo dài lâu dài và thường không tự khỏi được. Các bệnh phổ biến như tiểu đường, cao huyết áp, bệnh tim mạchbệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) đều thuộc nhóm bệnh mạn tính. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), bệnh không lây nhiễm (NCDs) gây ra 71% tổng số ca tử vong trên thế giới. Tại Việt Nam, quản lý bệnh mạn tính vẫn còn nhiều hạn chế do hệ thống y tế chưa đáp ứng đủ nhu cầu của cộng đồng. Nhân lực y tếtrang thiết bị y tế chưa phân bố đều, đặc biệt tại các địa phương ngoại thành. Do đó, vai trò của người bán lẻ thuốc tại nhà thuốc trở nên vô cùng quan trọng trong việc nâng cao nhận thức bệnh nhânhỗ trợ quản lý bệnh mạn tính.

2.1. Khái niệm và phân loại bệnh mạn tính

Bệnh mạn tính bao gồm các bệnh có thời gian tiến triển dài, diễn tiến chậmthường không tự khỏi. Các bệnh mạn tính chính bao gồm: bệnh tim mạch, tiểu đường, bệnh hô hấp, bệnh ung thưbệnh xương khớp. Chúng ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân và gây tổn thất kinh tế cho xã hội.

2.1. Thực trạng bệnh mạn tính tại Việt Nam

Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc bệnh mạn tính ngày càng gia tăng do già hóa dân số, lối sống không lành mạnhtăng đột biến stress. Bệnh mạn tính chiếm 70% trong 10 nguyên nhân tử vong hàng đầu. Tuy nhiên, tỷ lệ điều trị và kiểm soát bệnh mạn tính vẫn còn thấp, đặc biệt ở các vùng nông thôn và ngoại thành.

III. Nhận thức của người bán lẻ thuốc về quản lý bệnh mạn tính

Nhận thức của người bán lẻ thuốc về quản lý bệnh mạn tính là yếu tố then chốt quyết định mức độ can thiệp và hỗ trợ mà họ cung cấp cho bệnh nhân. Khóa luận của Ngô Thị Thủy Tiên cho thấy rằng nhận thức của người bán lẻ thuốc về vai trò của họ trong quản lý bệnh mạn tínhbiến số quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng dịch vụ tại nhà thuốc. Nghiên cứu đã xác định các yếu tố thúc đẩy như ý thức trách nhiệm xã hội, nhu cầu nâng cao tay nghềlợi ích kinh tế. Đồng thời, nghiên cứu cũng phát hiện các yếu tố rào cản bao gồm thiếu kiến thức, thời gian hạn chếthiếu hỗ trợ từ chính sách.

3.1. Các yếu tố thúc đẩy sự tham gia

Người bán lẻ thuốc bị thúc đẩy tham gia quản lý bệnh mạn tính bởi trách nhiệm xã hội trong chăm sóc sức khoẻ cộng đồng. Nhu cầu nâng cao chuyên môn, tay nghềthu nhập thêm cũng là yếu tố thúc đẩy quan trọng. Hơn nữa, gần gũi với bệnh nhân tạo cơ hội xây dựng tin tưởngtăng cường tương tác.

3.2. Những rào cản trong quản lý bệnh mạn tính

Người bán lẻ thuốc gặp nhiều rào cản bao gồm thiếu kiến thức về bệnh mạn tính, cập nhật thông tin. Thời gian hạn chế do công việc bán hàng hàng ngàythiếu đội ngũ nhân sựvấn đề lớn. Ngoài ra, thiếu hướng dẫn chính thức từ chính sáchkhó khăn trong việc phân biệt vai trò dược sĩ-người bán lẻ cũng tạo áp lực tâm lý cho họ.

IV. Đóng góp của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính

Đóng góp của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tínhrất quan trọng và cần thiết nhưng thường bị coi thường. Nghiên cứu của Ngô Thị Thủy Tiên đã chứng minh rằng người bán lẻ thuốc có thể thực hiện các hoạt động can thiệp như tư vấn về dùng thuốc, chế độ sống, dinh dưỡngkhuyến khích bệnh nhân tuân thủ điều trị. Người bán lẻ thuốc cũng có thể phát hiện sớm các biến chứngchuyển hướng bệnh nhân tới các cơ sở y tế khi cần. Hoạt động giáo dục sức khoẻ cộng đồng tại nhà thuốc cũng là công việc quan trọngngười bán lẻ thuốc có thể thực hiện để nâng cao nhận thức về bệnh mạn tính.

4.1. Các hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc

Người bán lẻ thuốc có thể thực hiện tư vấn dùng thuốc, theo dõi tác dụng phụkhuyến khích tuân thủ điều trị. Hoạt động giáo dục sức khoẻ bao gồm nâng cao nhận thức về bệnh, chế độ ăn, tập luyệnkiểm soát căng thẳng. Xác định yếu tố nguy cơ bệnh mạn tính thông qua tương tác hàng ngày cũng là công việc quan trọng.

4.2. Tác động của can thiệp người bán lẻ thuốc

Can thiệp từ người bán lẻ thuốc giúp cải thiện tuân thủ điều trị của bệnh nhân mạn tính. Tư vấn về lối sống góp phần giảm các biến chứng. Giáo dục sức khoẻ cộng đồng tại nhà thuốc nâng cao nhận thức về bệnh mạn tính. Hợp tác với y bác sĩ giúp tối ưu hóa điều trịcải thiện kết quả sức khoẻ cho bệnh nhân.

21/12/2025
Ngô thị thủy tiên phân tích nhận thức và đóng góp của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính tại một số nhà thuốc ở hà nội khóa luận tốt nghiệp dược sĩ

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Bệnh mạn tính đang tạo ra một gánh nặng y tế nặng nề do tỷ lệ tàn tật, tử vong cao và có xu hướng ngày càng gia tăng. Theo dự đoán vào năm 2020, bệnh mạn tính sẽ chiếm gần ba phần tư tổng số ca tử vong trên toàn thế giới và đặc biệt là các nước đang phát triển [36]. Tại Việt Nam, bệnh mạn tính đang là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong, cứ 10 trường hợp tử vong thì có 7 người chết do bệnh mạn tính [36]. Chính vì vậy, quản lý bệnh mạn tính đang trở thành một vấn đề ưu tiên trong chăm sóc sức khoẻ hiện nay.

Trên thế giới, khái niệm quản lý bệnh mạn tính bao gồm sự phối hợp trong sàng lọc, kiểm tra, theo dõi, điều trị và giáo dục bệnh nhân. Quản lý bệnh mạn tính có thể giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và giảm chi phí chăm sóc bằng cách ngăn ngừa hoặc giảm thiểu các tác động của bệnh [52]. Tham gia vào hoạt động quản lý bệnh mạn tính không chỉ có bác sĩ, điều dưỡng mà còn có dược sĩ cộng đồng và các cán bộ, tổ chức khác có liên quan. Việc phối hợp đa ngành trong quản lý bệnh mạn tính đã giúp phát huy được điểm mạnh của từng nhóm chuyên gia y tế và mang lại được nhiều lợi ích cho bệnh nhân, giúp phát huy được mục tiêu chăm sóc lấy bệnh nhân làm trung tâm [12], [20].

Dược sĩ cộng đồng ngày càng khẳng định vai trò và vị trí của mình trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính. Những ưu điểm trong khả năng tiếp cận bệnh nhân của nhà thuốc (thường là điểm đến đầu tiên của bệnh nhân trong hệ thống chăm sóc sức khỏe, có mặt ở khắp mọi nơi, thời gian tiếp đón bệnh nhân dài, tư vấn mà không cần hẹn trước) cùng với kiến thức và kỹ năng chuyên môn của mình, dược sĩ cộng đồng có thể tham gia và cung cấp nhiều dịch vụ chăm sóc giúp quản lý bệnh mạn tính [12], [17], [19]. Tại các quốc gia phát triển, bên cạnh hoạt động cung ứng thuốc cho cộng đồng, Người bán lẻ thuốc còn cung cấp rất nhiều dịch vụ khác như lên kế hoạch theo dõi và chăm sóc bệnh nhân, đánh giá vấn đề tuân thủ điều trị, hỗ trợ bệnh nhân giám sát các triệu chứng bệnh, cung ứng thuốc đến tận nhà… [48], [30]. Tại Việt Nam, vai trò của người bán lẻ thuốc trong quản lý bệnh mạn tính hiện nay chưa được ghi nhận trong các văn bản pháp luật cũng như chưa có nghiên cứu nào về vấn đề này.

Do đó, tìm hiểu về nhận thức của người bán lẻ thuốc về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực hiện và sự đóng góp của họ hiện nay với hoạt động này tại Việt Nam là rất cần thiết. Chính vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu “Tìm hiểu nhận 1 thức và đóng góp của người bán lẻ thuốc trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại một số nhà thuốc ở Hà Nội” với các mục tiêu nghiên cứu như sau: 1. Tìm hiểu nhận thức của người bán lẻ trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc 2. Tìm hiểu đóng góp của người bán lẻ trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc.

Từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm có thể phát huy tốt hơn vai trò của người bán lẻ trong hoạt động quản lý bệnh mạn tính tại nhà thuốc. Tổng quan về bệnh mạn tính 1. Khái niệm bệnh mạn tính Xu hướng bệnh tật trên thế giới cũng như Việt Nam đang thay đổi. Nếu trước đây những bệnh cấp tính lây nhiễm như dịch hạch, sốt rét, nhiễm khuẩn hay gặp thì hiện nay các bệnh không lây nhiễm hay còn gọi là bệnh mạn tính như bệnh tim mạch, huyết áp, đái tháo đường, xương khớp, ung thư ngày càng nhiều và gây tốn kém cho cá nhân và cộng đồng.

Có nhiều định nghĩa, quan điểm khác nhau về bệnh mạn tính. Theo tổ chức Y tế thế giới (World Health Organization - WHO), “bệnh mạn tính còn được gọi là bệnh không lây nhiễm (Noncommunicable diseases - NCDs) là bệnh không truyền từ người này sang người khác. Bệnh tiến triển trong thời gian dài và chậm. Bốn bệnh không lây nhiễm chính là tim mạch (đau tim và đột quỵ), ung thư, bệnh hô hấp mạn tính (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính và hen) và bệnh tiểu đường” [27].

Còn theo tổ chức Bác sĩ gia đình thế giới (World Organization of Family Doctors - WONCA) thì lại định nghĩa “bệnh mạn tính là bệnh kéo dài - thường có các đợt kéo dài và thời gian lâm sàng kéo dài; với nhiều nguyên nhân; không có phương pháp chữa bệnh rõ ràng; tiến triển dần dần theo thời gian” [9]. Như vậy, theo định nghĩa này của WONCA thì bệnh mạn tính bao gồm cả những bệnh không lây nhiễm (như tiểu đường, tim mạch, bệnh phổi tắc nghẽn, ung thư và trầm cảm) và bệnh lây nhiễm (HIV/AIDS). Trung tâm quốc gia về thống kê y tế của Mỹ (National Center for Health Statisics) thì định nghĩa “bệnh mạn tính là bệnh kéo dài, ít nhất 3 tháng trở nên. Bệnh mạn tính thường không thể ngăn ngừa bằng vaccin hoặc chữa khỏi bằng thuốc, và cũng không biến mất” [51].

Một nghiên cứu về bệnh mạn tính tại 8 quốc gia ở Châu Âu thì cho thấy khái niệm bệnh mạn tính bao gồm các vấn đề sức khỏe có tính lâu dài như bệnh tiểu đường, bệnh tim hoặc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn thần kinh và thần kinh tiến triển. Bệnh mạn tính cũng bao gồm các khuyết tật và khiếm khuyết không được định nghĩa là bệnh như rối loạn cơ xương và một số bệnh truyền nhiễm như HIV/AIDS. Một số bệnh ung thư theo cách tiếp cận về quản lý cũng được xem là bệnh mạn tính [29]. Trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ ban đầu, theo công bố của tác giả Julie và cộng sự trên tạp chí thực hành gia đình (Family Practice) năm 2004 thì bệnh mạn tính 3 bao gồm các đặc điểm sau (sử dụng phân loại quốc tế của chăm sóc ban đầu - Internationl Classification of Primary Care) [31]: - Có thời gian kéo dài hoặc dự kiến kéo dài ít nhất 6 tháng - Bệnh có tính tái phát hoặc suy thoái - Có tiên lượng xấu - Gây hậu quả/di chứng ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống của bệnh nhân.

Chúng tôi cũng sử dụng định nghĩa mô tả các đặc điểm này khi tiến hành thu thập số liệu tại các nhà thuốc thông qua hình thức phỏng vấn sâu hoặc khảo sát. Thực trạng bệnh mạn tính trên thế giới và tại Việt Nam 1. Trên thế giới Bệnh mạn tính tạo ra gánh nặng bệnh tật nặng nề do tỷ lệ tàn phế và chết yểu cao. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2008, thế giới đã có 36 triệu người chết vì bệnh mạn tính (chiếm 63% tổng ca tử vong) và 9 triệu người đã chết trước khi 60 tuổi.

Gần 80% số ca tử vong do bệnh mạn tính xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình. Nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do các bệnh mạn tính là bệnh tim mạch (17 triệu người, chiếm 48% số ca tử vong do bệnh mạn tính), sau đó đến ung thư (7,6 triệu người, tương ứng với 21%), và bệnh phổi mạn tính bao gồm hen phế quản và bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) (4,2 triệu người), đái tháo đường gây ra 1,3 triệu ca tử vong [33]. Theo dự đoán vào năm 2020, bệnh mạn tính sẽ chiếm gần ba phần tư tổng số ca tử vong trên toàn thế giới và đặc biệt ở các nước đang phát triển [36]. Xu hướng của bệnh mạn tính cũng là vấn đề đáng lo ngại vì chúng không chỉ ảnh hưởng đến một tỷ lệ lớn dân số mà còn bắt đầu có xu hướng trẻ hoá (xuất hiện ở độ tuổi trẻ hơn).

Theo WHO, năm 2011, đa số trường hợp tử vong sớm do bệnh mạn tính trong độ tuổi từ 30 - 70 xảy ra ở các nước đang phát triển (chiếm 85%) [31]. Dự đoán đến năm 2020, 60% gánh nặng bệnh mạn tính sẽ xảy ra ở các nước đang phát triển. Khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương là những khu vực có tỷ lệ tử vong do bệnh mạn tính cao so với các khu vực khác trên thế giới. Tỷ lệ mắc bệnh tim mạch ngày càng tăng ở Ấn Độ và Trung Quốc [34].

Đối với tình trạng thừa cân, tỷ lệ hiện mắc đã đạt đến mức chưa từng có, tốc độ tăng trưởng hàng năm ở hầu hết các nước đang phát triển là cao [38]. Trên phạm vi toàn cầu, WHO khuyến cáo một số chiến lược và phương thức để phòng chống bệnh mạn tính để giảm nguy cơ và hậu quả do bệnh này gây ra. Tại Việt Nam Việt Nam đang đối mặt với gánh nặng “kép” về bệnh tật. Trong khi, tỷ lệ mắc bệnh truyền nhiễm đang giảm, thì tỷ lệ các bệnh mạn tính - bệnh không lây nhiễm - đang gia tăng.

Bệnh mạn tính hiện là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở Việt Nam, cứ 10 trường hợp tử vong thì có 7 người chết do bệnh mạn tính. Bốn loại bệnh mạn tính chính được quan tâm hiện nay ở Việt Nam là bệnh tim mạch (nhồi máu cơ tim, đột quỵ…), đái tháo đường, bệnh hô hấp mạn tính (bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính, hen phế quản) và ung thư [1]. WHO ước tính trong năm 2012 cả nước có 379.600 ca tử vong do bệnh mạn tính (chiếm 73%), trong đó bệnh tim mạch chiếm 33%, ung thư chiếm 18%, COPD chiếm 7% và đái tháo đường chiếm 3% [54]. Sự gia tăng của bệnh mạn tính đã kéo theo vấn đề gia tăng nhanh trong chi phí khám, chữa bệnh và quá tải ở các bệnh viện tuyến trung ương.

Chi phí điều trị cho bệnh nhân mạn tính trung bình cao gấp 40 - 50 lần so với điều trị các bệnh lây nhiễm, do đòi hỏi kỹ thuật cao, thuốc đặc trị đắt tiền, thời gian điều trị kéo dài, dễ bị biến chứng. Cũng theo WHO, tổn thất lũy tích về kinh tế đối với các nước có thu nhập thấp và trung bình do các bệnh mạn tính là hơn 7000 tỷ USD trong giai đoạn từ 2011 - 2025 (bình quân mỗi năm gần 500 tỷ USD) [35]. Cuộc sống lâu dài đi kèm với sự gia tăng tỷ lệ hiện mắc các bệnh mạn tính và sự kết hợp của các bệnh mạn tính là phổ biến. 65% người trên 65 tuổi có hai hoặc nhiều bệnh mạn tính, như tiểu đường, hen, tim và suy thận.

Sự hiện diện của nhiều bệnh mạn tính làm tăng gánh nặng bệnh tật và ảnh hưởng tiêu cực đến tình trạng sức khoẻ [49]. Quản lý bệnh mạn tính 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ