NGỘ ĐỘC & XỬ TRÍ QUÁ LIỀU THUỐC Giảng viên: Thạc sĩ. BS Nguyễn Phúc Học Uỷ viên BCH Hội GMHS Việt Nam & Phó Chủ tịch Chi hội GMHS Miền Trung - Tây Nguyên. Phó Trưởng Khoa Y & Trưởng Bộ môn Tiền lâm sàng / DTU. Nguyên Đại tá Phó Giám đốc Bệnh viện 199 Bộ Công An (2005 – 2015) & Chủ nhiệm Khoa GMHS Bệnh viện 17 QK 5, Bộ Quốc Phòng (1985 – 2005) 1 MỤC TIÊU 1.
Hiểu được đường vào, nguyên nhân người bệnh bị ngộ độc & quá liều thuốc 2. Nêu được triệu chứng, chẩn đoán bệnh nhân bị ngộ độc & quá liều thuốc 3. Trình bày được nguyên tắc xử trí ngộ độc & quá liều một số thuốc NỘI DUNG I. Khái niệm chung II.
Nguyên nhân chung III. Cơ chế tác dụng IV. Triệu chứng lâm sàng V. Chẩn đoán ngộ độc VI.
Nguyên tắc xử trí chung VII. Ngộ độc & quá liều thuốc hay gặp 1. Morphine & Opioids Biểu tượng độc tiêu chuẩn EU, được 6. Methanol định nghĩa bởi Chỉ thị 67/548/EEC VIII.Nhiễm độc thuốc tê-thuốc mê 1.
Nhiễm độc thuốc tê 2. Nhiễm độc thuốc mê 3. Nhiễm độc: Lidocain; Nitrous oxide; PCP & Ketamine; Propofol 2 I. Khái niệm chất độc ─ Chất độc (poison) là những chất vô cơ hay hữu cơ có nguồn gốc thiên nhiên hay do tổng hợp, khi nhiễm vào cơ thể và đạt đến nồng độ nhất định có thể gây hiệu quả độc hại cho cơ thể sống.
Osweiler định nghĩa: chất độc là những chất rắn, lỏng hoặc khí, khi nhiễm vào cơ thể theo đừơng uống hoặc các đường khác sẽ gây ảnh hưởng đến các quá trình sống của các tế bào của các cơ quan, tổ chức. Các tác động này phụ thuộc vào bản chất và độc lực của các chất độc. ─ Khái niệm khác của chất độc là độc tố (toxin) được dùng để chỉ các chất độc được sản sinh (có nguồn gốc) từ các quá trình sinh học của cơ thể và được gọi là độc tố sinh học (biotoxin). Trong quá trình nghiên cứu về chất độc cần lưu ý một số điểm sau: ─ Chất độc là một khái niệm mang tính định lượng.
Mọi chất đều độc ở một liều nào đó và cũng vô hại với liều rất thấp. Giới hạn giữa 2 liều đó là phạm vi các tác dụng sinh học. ─ Theo Paracelsus (1493 - 1541): “tất cả mọi chất đều là chất độc, không có chất nào không phải là chất độc. Sắt, đồng, magne, kẽm là những nguyên tố vi lượng cần thiết trong thành phần thức ăn chăn nuôi, nhưng nếu quá liều thì có thể gây ngộ độc… 3 ‒ Về mặt sinh học, một chất có thể độc với loài này nhưng lại không độc với loài khác.
Carbon tetraclorid gây độc mạnh cho gan trên nhiều loài, nhưng ít hại hơn đối với gà. Một số loài thỏ có thể ăn lá cà độc dược có chứa belladon. ‒ Một chất có thể không độc khi dùng một mình, nhưng lại rất độc khi dùng phối hợp với chất khác. Piperonyl butoxid rất ít độc với loài có vú và côn trùng khi dùng một mình, nhưng có thể làm tăng độc tính rất mạnh của các chất dùng cùng do nó có tác dụng ức chế các enzym chuyển hoá chất lạ (xenobiotic - metabolizing enzymes) của cơ thể.
‒ Độc tính của một chất độc có thể thay đổi khi xâm nhập vào cơ thể qua các đường khác nhau như: qua đường uống, đường hô hấp, qua da, qua đường tiêm. Phân loại chất độc theo độc lực Phân loại Độc lực (LD50) Rất độc (extremely toxic) < 1mg/kg Độc lực cao (highly toxic) 1 - 50 mg/kg Độc lực trung bình 50-500 mg/kg Độc lực thấp (slightly toxic) 0,5 - 5 g/kg Không gây độc (practically 5 - 15g/kg Không có hại (relatively >15g/kg 4 b. Ngộ độc - Khái niệm ngộ độc Ngộ độc là trạng thái rối loạn những hoạt động sinh lý bình thường của cơ thể do chất độc gây ra. Chất độc ức chế một số phản ứng sinh hoá học, ức chế chức năng của enzym.
Từ đó chất độc có thể ức chế hoặc kích thích quá độ lượng các hormon, hệ thần kinh hoặc các chức phận khác của tế bào làm cho cơ thể có những triệu chứng, phản ứng khác thường. - Phân loại ngộ độc: Có nhiều cách phân loại ngộ độc, chủ yếu phân loại theo thời gian xảy ra ngộ độc. + Ngộ độc cấp tính: Ngộ độc tính cấp tính là những biểu hiện ngộ độc xẩy ra rất sớm sau một hoặc vài lần cơ thể tiếp xúc với chất độc. Tùy thuộc vào chất gây độc, đường xâm nhiễm chất độc, biểu hiện ngộ độc có thể xảy ra 1- 2 phút hoặc 30 phút đến 60 phút sau khi cơ thể hấp thu chất độc và thường là dưới 24 giờ.
+ Ngộ độc bán cấp (á cấp tính) Xảy ra sau nhiều ngày, có khi sau 1- 2 tuần. Sau khi điều trị, khỏi nhanh nhưng thường để lại những di chứng thứ cấp với những biểu hiện nặng nề hơn. Ví dụ ngộ độc oxit carbon. Ngộ độc á cấp tính có khi chuyển sang thành dạng mạn tính.
5 + Ngộ độc mạn tính Ngộ độc mạn tính chỉ xuất hiện sau nhiều lần phơi nhiễm với độc chất, có khi là hàng tháng, hàng năm. Vì vậy, những biểu hiện của nhiễm độc thường là những thay đổi rất sâu sắc về cấu trúc và chức phận của tế bào, khó điều trị. Ví dụ: tác dụng gây ung thư, gây đột biến gen, gây quái thai, gây độc cho gan, thận, hệ thần kinh dẫn đến suy giảm chức năng không hồi phục. Ngộ độc mạn tính cũng có thể trở thành cấp tính trong những điều kiện nhất định (ngộ độc chì).
Cùng một chất lại có thể biểu hiện tác dụng độc khác nhau tùy theo nhiễm độc cấp hoặc mạn: nhiều hydrocarbon gắn clor khi nhiễm độc cấp (liều cao) thì gây độc trên thần kinh trung ương, nhưng khi nhiễm độc mạn (liều thấp trong thời gian dài) thì lại có biểu hiện gây ung thư (gan), rất ít tác dụng độc trên thần kinh. * Tác dụng ‘độc’ tiềm ẩn: Là loại phản ứng không được thể hiện trong nhiều ngày, tháng hay thậm chí hàng năm (ví dụ như tác dụng gây ung thư và gây độc thần kinh của một số chất hữu cơ). Tác dụng tiềm ẩn thường xẩy ra sau khi ngừng phơi nhiễm với chất độc một thời gian dài. 6 c, Ngộ độc, quá liều thuốc & dịch tễ - Ngộ độc ‘ám chỉ’ những tác dụng gây hại liên quan đến liều sau khi tiếp xúc hóa học, thuốc và các xenobiotic khác ≠ Quá liều thuốc là dùng một lượng lớn các thuốc, dược phẩm bình thường hoặc một thuốc bất hợp pháp.
- Ở Mỹ, mỗi năm nhiễm độc hóa học ước tính có tới 5 triệu người cần điều trị hoặc lời khuyên y tế, và khoảng 5% bệnh nhân phải nhập viện. Tỉ lệ tử vong nói chung <1%; Tỉ lệ tự tử là nghiêm trọng nhất hoặc tử vong do ngộ độc (1-2% tử vong). Có tới 30% được nhập viện do tự tử bằng dùng quá liều. - Ở Việt Nam, từ 25-30% số bệnh nhân đến bệnh viện cấp cứu là do ngộ độc cấp và số tử vong khoảng 10-12% (Vụ điều trị - Bộ y tế); trong số đó không ít người bị ngộ độc thuốc: + Carbon monoxid (CO) là nguyên nhân hàng đầu gây chết do ngộ độc.
Ngộ độc Acetaminophen là thuốc phổ biến nhất gây tử vong. Tử vong do các thuốc khác thường do thuốc giảm đau, chống trầm cảm, thuốc ngủ-an thần, thuốc an thần kinh, chất kích thích, ma túy đường phố, thuốc tim mạch, chống co giật, kháng histamin, và điều trị hen. + Chất không phải thuốc gây tử vong do ngộ độc bao gồm rượu và glycol, khí thải và khói, chất làm sạch, thuốc trừ sâu. - Chuẩn đoán ngộ độc hoặc quá liều thuốc nên được cân nhắc ở các bệnh nhân có biểu hiện: hôn mê, co giật, hoặc suy thận cấp hay có suy tủy xương.
- Tần suất: 5 – 10% của tổng số bệnh nhân nhập viện; 15 – 20% các trường hợp gọi cấp cứu để vận chuyển đến bệnh viện; 20 – 40% các bệnh nhân điều trị tại khoa săn sóc đặc biệt nội khoa; 35 – 40% các bệnh nhân hôn mê không phải chấn thương. Đường vào của độc chất Gồm: đường tiêu hoá, đường hô hấp, da và niêm mạc, đường tiêm truyền…trên thực tế lâm sàng hay gặp nhất ngộ độc qua đường ăn uống. Thời gian tiềm ẩn của chất độc Chất độc cần thời gian nhất định để thấm vào máu và cơ thể để tác dụng độc. Nếu cấp cứu trong giai đoạn chất độc còn nằm trong dạ dày, trên da thì dễ dàng loại bỏ chất độc bằng rửa dạ dày, tắm, gội hoặc dùng sớm các thuốc giải độc ngăn không cho chất độc gây tác dụng độc giúp bệnh nhân tránh khỏi bị ngộ độc nặng.
Khi chất độc đã ngấm vào cơ thể và gây độc thì tình trạng sẽ nguy hiểm hơn, nguy cơ điều trị phức tạp, tốn kém và tử vong cao hơn. NGUYÊN NHÂN - Do sơ xuất trong bảo quản chất độc hoặc do dùng quá liều quy định (10 – 15% do tai nạn). - Do nghề nghiệp tiếp xúc với hoá chất độc. - Do uống chất độc tự tử.
- Do bị đầu độc. - Chiến tranh chất độc: bom Clo. CƠ CHẾ TÁC DỤNG CỦA CHẤT ĐỘC 3. Cơ sở phân tử của tổn thương tế bào do ngộ độc, nhiễm độc ─ Tổn thương tế bào là cơ sở của hầu hết các tác dụng độc hại.
Tác dụng gây độc của chất độc là kết quả của sự rối loạn chức năng một số quá trình sinh học trong cơ thể. ─ Đáp ứng tế bào đối với các hoá chất độc xảy ra thông qua 2 cơ chế: ảnh hưởng đến cấu trúc và ảnh hưởng đến chuyển hoá trong tế bào. + Ảnh hưởng đến cấu trúc: Tính toàn vẹn của màng tế bào bị thay đổi sẽ ảnh hưởng đến sự vận chuyển các thể dịch và chất điện phân, đến sự điều chỉnh thể tích tế bào. + Ảnh hưởng đến chuyển hoá: (1) Làm giảm năng lượng sẵn có cho quá trình vận chuyển tích cực, tổng hợp các cao phân tử và duy trì cân bằng thẩm thấu (bơm kali – natri) (2) Làm xáo trộn điều khiển axit nucleic, gây biến tính protein cấu trúc dẫn đến ngừng trệ tổng hợp protein.
Quá trình tăng trưởng bị ảnh hưởng (hiện tượng tăng sinh hay ung thư) do DNA bị phá huỷ, không được sao chép đúng hoặc vượt quá khả năng điều khiển sự ổn định nội môi (3) Gây tích lũy các chất béo và các sắc tố bất thường. 9 - Một số xenobiotics (acid mạnh, base mạnh, nicotine, aminoglycoside, ethylene oxide, methyliscyanate, kim loại nặng, HCN, CO) là chất độc trực tiếp, trong khi độc tính của các chất khác lại phụ thuộc phần lớn vào các chất chuyển hóa của chúng.