Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về nấm độc 1. Khái niệm về nấm độc Nấm độc là loài nấm có chứa độc tố gây ngộ độc cho cơ thể con người và động vật khi ăn phải. Trong thiên nhiên có rất nhiều loài nấm, có loài ăn được và có loài có độc tính không ăn được.
Nấm độc mọc ở khắp nơi trên thế giới với các loài khác nhau và sự phân bố cũng khác nhau. Hiện nay, người ta đã phát hiện ra hàng trăm loài nấm có độc tính. Ở Trung Quốc, người ta cũng phát hiện được hơn 180 loài nấm độc, trong đó có 30 loài gây tử vong [26]. Tại Mỹ có hơn 5000 loài nấm, trong đó có gần 100 loài nấm độc [27], [28].
Một số đặc điểm của nấm độc Về cấu trúc, nấm có 2 phần chính: Thể quả và thể sợi. - Thể quả: là phần mọc trên mặt đất, có thể nhìn thấy được, gồm: mũ nấm, phiến nấm, cuống nấm. Ở phần trên của cuống có thể có vòng cuống và phần dưới có thể có bao gốc. Màu sắc của thể quả rất khác nhau: trắng, xám tro, vàng, đỏ, da cam.
nâu, tím… - Thể sợi là phần ăn xuống dưới đất hoặc gỗ mục mà ta không nhìn thấy được. Bộ phận độc của nấm nằm ở phần thể quả. Những nấm có đủ mũ, phiến, cuống, vòng và bao gốc hầu hết là nấm độc, hay những nấm có bào tử màu hồng nhạt, mũ nấm màu đỏ có vẩy trắng, sợi nấm phát ra ánh sáng… thường là nấm độc [29], [22], [21]. Một số loài nấm có thể có hàm lượng độc tố thay đổi theo mùa, trong quá trình sinh trưởng (nấm non hay nấm trưởng thành), trong môi trường đất đai thổ nhưỡng khác nhau, vì vậy có thể gặp trường hợp ăn cùng một loài nấm nhưng có lúc bị ngộ độc, có lúc không.
Cùng một loài nấm độc nhưng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 mọc ở vùng có khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau thì sự phân bố, hình dạng, độ lớn, độc tính,. cũng khác nhau. Thời gian mọc và tán của nấm độc ngắn (khoảng 5 -7 ngày). Loài nấm gây chết người là nấm độc tán trắng (Amanita verna) và nấm độc trắng hình nón (Amanita virosa) [30], [26], [21].
Phân loại nấm độc 1. Phân loại nấm độc theo độc tố chứa trong nấm Nấm độc bao gồm rất nhiều loài với đặc điểm hình thái, thành phần độc tố và đặc điểm tác dụng lên cơ thể cũng rất khác nhau, vì vậy có rất nhiều cách phân loại nấm độc. Các nhà khoa học Mỹ (Fisher D. B (2007) [32] đã phân loại nấm độc theo độc tố có chứa trong nấm, theo cách phân loại này thì các loài nấm độc được chia ra làm 8 loại: - Amanitoxin (Cyclopeptides): Các loài nấm loài amanita như: A.
virosa vàloài Galerina autumnalis, G. marginata, Conocybe filaris. - Gyromitrin (Monomethylhydrazine): Nấm thuộc loài Gyromitra như G. gigas và loài Helvella, Paxina.
- Orellaine: Thuộc một vài loài Cortinarius như C. - Muscarine: Thuộc loài nấm màu nâu hoặc trắng nhỏ giống Clitocybe như: Clitocybe dealbata, Clitocybe cerussata, Clitocybe rivulosa, Clitocybe truncicola và khoảng 30 loài Inocybe. Amanita muscaria và Amanita pantherina cũng chứa muscarine. - Ibotenic Acid, Muscimol: Thuộc loài nấm Amanita như: A.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. strobiliformis và loài Panaeolus campanulatus, Tricholoma muscarium (từ Nhật Bản). - Coprine: Thuộc loài Coprinus atramentarius. Một vài loài nấm có thể gây ngộ độc như: Coprinus micaceus, Coprinus fuscescens, Coprinus insignis và Clitocybe clavipes.
- Psilocybin and Psilocin: Các loài thuộc 4 giống: Psilocybe, Panaeolus, Conocybe và Gymnopilus. - Các chất gây rối loạn đường tiêu hóa gồm nhiều loài nấm như: Agaricus (A.I và Chyka P [33] có đưa ra phân loại độc tố nấm độc có một số thay đổi so với các tác giả khác. Theo các tác giả này độc tố nấm độc cũng được chia thành 8 nhóm gồm: - Cyclopeptide và cyclopeptide và/hoặc orellanine. - Ibotenic acid và/hoặc muscimol.
- Gyromitrin hoặc monomethylhydrazine. - Độc tố gây rối loạn đường tiêu hóa. - Độc tố khác. Tuy nhiên, tên độc tố của các nhóm nấm độc ở Mỹ và châu Âu có khác nhau.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: So sánh phân loại độc tố trong nấm ở Mỹ và Châu Âu Phân loại ở Mỹ Phân loại ở Châu Âu Cyclopeptides Amatoxins Orellanines Orellanines Monomethylhydrazine Gyromitrins Disulfiram-like Coprine Muscarine Muscarin Isoxazoles Pantherine Các indole gây ảo giác Psilocybin (Hallucinogenic indoles) Các chất gây rối loạn đường tiêu hóa Các chất gây rối loạn đường tiêu hóa (Gastrointestinal irritants) (Gastrointestinal irritants) 1. Phân loại nấm theo đặc điểm tác dụng lên cơ quan, hệ thống (sinh lý). Một số tác giả khác đã phân loại nấm độc theo đặc điểm tác dụng lên cơ quan, hệ thống [34]. Theo cách phân loại này, nấm độc chia ra làm các nhóm sau: - Loài nấm có độc tố tác dụng lên hệ thần kinh tương tự như ngộ độc muscarin: Một số loài nấm thuộc chi Clitocybe như: Clitocybe dealbata, Clitocybe Cerussata, Clitocybe rivulosa, Clitocybe truncicola và khoảng 30 loài LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
- Loài nấm gây tổn thương gan, thận và thường gây chết người: amanita verna,Amanita virosa, Amanita phalloides, Galerina autumnalis, Lepiota josserandii, Gyromitra esculenta. - Loài nấm gây rối loạn tiêu hóa: Chlorophyllum molybdites, Agaricus meleagris, Amanita gemmata, Armillaria mellea, Omphalotus olearius, Boletus huronensis, Boletus sensibilis. Loài nấm vừa gây rối loạn tiêu hóa vừa gây rối loạn hệ thần kinh: Amanita muscaria, Amanita pantherina. - Loài nấm gây ảo giác, rối loạn tâm thần: một số loài nấm thuộc chiPsilocybe (Psilocybe caerulipes,…), Panaeolus, Conocybe và Gymnopilus (Gymnopilus spectabilis).
Phân loại nấm độc theo thời gian tác dụng - Theo cách phân loại của Vũ Văn Đính [35] dựa trên thời gian tác dụng, nấm độc chia làm 2 nhóm chính: + Nhóm nấm độc gây ngộ độc sớm: Sau khi ăn phải, các triệu chứng đầu tiên xuất hiện trước 6 giờ. Ví dụ: Nấm độc nâu (Amanita pantherina), nấm độc đỏ (Amanita muscaria), nấm mũ khía nâu xám (Inocybe fastigiata). + Nhóm nấm độc gây ngộ độc chậm: Các triệu chứng đầu tiên xuất hiện muộn, thường 6 đến 40 giờ (trung bình 12 giờ) sau khi ăn. Ví dụ: nấm độc xanh đen (Amanita phalloides), nấm độc tán trắng (Amanita verna),… - Phân loại nấm độc theo thời gian tác dụng: chia làm 3 nhóm: + Triệu chứng xuất hiện sớm (early symptom): Triệu chứng đầu tiên xuất hiện trước 6 giờ sau ăn.
+ Triệu chứng xuất hiện muộn (late symptom): Triệu chứng đầu tiên xuất hiện từ 6 giờ đến 24 giờ sau ăn. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 + Triệu chứng xuất hiện chậm (delayed symptom): Triệu chứng đầu tiên xuất hiện sau 24 giờ sau ăn [36]. Đặc điểm của các loài nấm độc 1. Nấm độc có chứa amatoxin - Các loài nấm có chứa amatoxin Nấm độc có chứa amatoxin thường gặp ở các loài và các chi sau [37]: + Chi Amanita: Nấm độc trắng hình nón (Amanita virosa); nấm độc tán trắng (Amanita verna); nấm độc xanh đen (Amanita phaloides);.
+ Chi Galerina: Nấm Galerina autumnalis; nấm Galerina marginata; nấm Galerina venenata,. + Chi Lepiota: Nấm Lepiota brunneo incarnata; nấm Lepiota bruneolillacae; nấm Lepiota castanea; nấm Lepiota felina,. - Đặc điểm các loại độc tố của amatoxin Amatoxin là tên gọi chung của các loại độc tố có chứa trong nấm độc thuộc nhóm này. Amatoxin có chứa trong toàn bộ phần thể quả của nấm (mũ, phiến, cuống).
Hàm lượng amatoxin trong mũ nấm cao hơn cuống nấm. Trong bào tử nấm cũng có chứa amatoxin [38], [37]. Độc lực của amatoxin không bị mất khi đun sôi và khi sấy khô độc lực không mất sau 10 năm [37]. + Độc tố của nấm độc tán trắng, nấm độc trắng hình nón, nấm Amanita bisporigera gồm 8 loại amatoxin là: α-amanitin, β-amanitin, γ-amanitin, epsilon- amanitin, amanullin, amanullinic acid, proamanullin, amanin [39].
+ Các loại độc tố này là các cyclopolypeptid và có cấu trúc vòng [40]. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Cấu trúc hoá học của alpha-amanitin. Công thức: C39H54N10O14S + Độc tố của nấm độc xanh đen gồm 7 loại amatoxin (cyclopolypeptid) hay còn gọi là phallotoxin là: phalloidin, phalloid, prophalloin, phallisin, phallacin, phallacidin, phallisacin. Đây là loại nấm độc nguy hiểm nhất, khoảng 90% các vụ chết người ở châu Âu, Mỹ là do loài nấm này [41].
+ Những nghiên cứu về triệu chứng ngộ độc nấm có chứa amatoxin Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài trên người bị ngộ độc nấm có chứa amatoxin thấy: Triệu chứng đầu tiên xuất hiện ở thời điểm 6 - 24 giờ, thường ở thời điểm 10 - 12 giờ sau ăn nấm. Các triệu chứng xuất hiện là buồn nôn và nôn, đau bụng và ỉa chảy nhiều lần. Các triệu chứng này kéo dài vài ngày. Sau đó có một khoảng thời gian 1 – 3 ngày bệnh nhân hết đau bụng, ỉa chảy, nôn mửa.
Floersheim và CS (1982) nghiên cứu 205 trường hợp ngộ độc nấm độc xanh đen cho thấy triệu chứng rối loạn tiêu hóa xuất hiện trên 199 bệnh nhân (97,1%) [42]. Tiếp theo là giai đoạn suy gan, thận (thường ở ngày thứ 4 - 5 sau ăn nấm). Ở bệnh nhân có thể sẽ xuất hiện các triệu chứng sau: Vàng da, xuất huyết, giảm đi tiểu hoặc vô niệu, hôn mê và tử vong có thể xảy ra do suy gan, suy thận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 Những trường hợp ngộ độc amatoxin hoạt độ AST (GOT), ALT (GPT) huyết thanh tăng rất cao [42], [43].
Cũng nghiên cứu trên cho thấy tỷ lệ tử vong là 22,4%. Tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 10 tuổi là 51,3% và bệnh nhân trên 10 tuổi là 16,5%. Bệnh nhân có hiện tượng xuất huyết chiếm 84% [42]. - Những nghiên cứu về điều trị ngộ độc nấm có chứa amatoxin Do ngộ độc loài nấm này có tỷ lệ tử vong cao nên đã có nhiều công trình nghiên cứu về điều trị trên người cũng như trên động vật thực nghiệm.
Để hạn chế hấp thu độc tố, các tác giả đều thống nhất dùng than hoạt tính. Amatoxin là loại độc tố có vòng tuần hoàn gan – mật, vì vậy, dùng than hoạt tính sẽ hạn chế tái hấp thu amatoxin ở đường tiêu hoá. Đã có nhiều công trình nghiên cứu thử nghiệm các loại thuốc khác nhau để điều trị ngộ độc nấm độc có chứa amatoxin, trong đó có penicilin G, silymarin, cimetidin, thioctic acid, cytochrome C,. Một số tác giả coi penicilin G, silymarin là những thuốc chống độc “đặc hiệu” (“antidot”) đối với amatoxin.
Penicilin G (Benzylpenicilin natri hoặc kali) là một thuốc có hiệu quả trong điều trị ngộ độc nấm có chứa amatoxin. Theo một số tác giả, Penicilin G có tác dụng làm hạn chế tế bào gan hấp thu độc tố của nấm, một số tác giả khác lại cho rằng Penicilin G có hiệu quả điều trị nhưng cơ chế chưa rõ [19]. Kết quả điều trị ngộ độc nấm bằng Benzylpenicillin, N-Acetylcystein and Silibinin nếu điều trị muộn thì không có hiệu quả [44]. Genser và Marcus (1987) nghiên cứu nhóm 10 bệnh nhân ăn phải nấm Amanita virosa.