Chương 1 này sẽ là tiền đề quan trọng phục vụ cho Chương 2: (1) tổng hợp các cơ sở lý luận của công tác cho vay và quy trình cho vay, (2) tài khoản, chứng từ, nguyên tắc, cách tính lãi vay của công tác kế toán và (3) quy trình hạch toán nghiệp vụ cho vay tại các ngân hàng thương mại. 10 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN NGHIỆP VỤ CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2. Khái quát nghiệp vụ cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 2. Khái niệm Phần lớn tín dụng thương mại trên toàn thế giới bao gồm 4 loại cho vay riêng biệt: (1) cho vay dựa trên tài sản, (2) cho vay theo dòng tiền, (3) thỏa thuận tài trợ tài chính thương mại, (4) cho thuê.
Tất cả loại hình cho vay này đều có kỳ hạn cao và sự đảm bảo, tuy nhiên, chúng khác nhau về tài sản thế chấp hỗ trợ. Sự tách biệt tín dụng thương mại này được thừa nhận rộng rãi trong thực tế nhưng nó mới chỉ được thừa nhận một phần trong nghiên cứu học thuật (Victoria, Luc và Enrique, 2020). Tại Việt Nam, theo Điều 2 Khoản 1 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. “Hoạt động cho vay là hoạt động tài trợ trực tiếp của NHTM cho khách hàng, theo đó, NHTM đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định” (Đinh Ngọc Huệ Anh, 2010).
Đối tượng cho vay của NH bao gồm các tổ chức tài chính, doanh nghiệp và cá nhân, hộ gia đình. Đặc biệt, đối tượng KH cá nhân gồm một cá nhân và hộ gia đình đang trở thành đối tượng mà các NHTM muốn tập trung vào khai thác vì số lượng rất lớn và đời sống kinh tế của người dân cải thiện đáng kể trong những năm vừa qua. Khi đó, NHTM sẽ trở thành trung gian tài chính trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi và cung cấp khoản vay cho KH cá nhân để đáp ứng nhu cầu đầu tư về tài sản, sản xuất kinh doanh, thuê tài chính, v,v. Lãi suất cho vay chính là chi phí mà KH phải chịu khi sử dụng khoản vốn mà NHTM đã cung cấp và KH phải trả cả vốn gốc lẫn lãi suất khi hết thời hạn cho vay.
Theo Điều 13 Khoản 1 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, “Tổ chức tín dụng và KH 11 thỏa thuận về lãi suất cho vay theo cung cầu vốn thị trường, nhu cầu vay vốn và mức độ tín nhiệm của KH”. Vai trò của hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại ❖ Đối với nền kinh tế Mỗi cá nhân hoạt động kinh tế đều có nhu cầu về vốn rất cao để phục vụ cho mục đích kinh doanh, sản xuất và họ không thể trông cậy vào nguồn vốn tự có mà phải tìm đến nguồn vốn sẵn có xung quanh. NHTM đóng vai trò là cầu nối giữa nơi có nguồn vốn nhàn rỗi và nơi thiếu hụt vốn, khi cung cấp tức thời khoản vốn để đáp ứng cho KH. Điều này giúp KH có cơ hội đầu tư vào mua sắm máy móc, nhà xưởng và hoạt động sản xuất, kinh doanh thuận lợi hơn dẫn đến nền kinh tế phát triển mạnh mẽ, giải quyết công ăn việc làm cho người lao động.
“Cho vay góp phần thu hút vốn đầu tư cho nền kinh tế” (Võ Thị Hạnh, 2018). Theo số liệu về cung ứng vốn cho tăng trưởng kinh tế của NHNN, tính đến ngày 17/11/2020, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế của các TCTD đã đạt hơn 8,79 triệu tỷ đồng, tăng 7,26% so với cuối năm 2019; trong đó, tín dụng bằng VND tăng 7,76%, tín dụng ngoại tệ giảm 0,69% (Dương Văn Bôn và Châu Đình Linh, 2021). ❖ Đối với ngân hàng thương mại “Hoạt động cho vay KH cá nhân nói riêng và nghiệp vụ ngân hàng bán lẻ nói chung sẽ góp phần làm tăng thị phần của các NHTM, đưa hình ảnh của ngân hàng đến với đông đảo đối tượng khách hàng, cung cấp cho khách hàng danh mục sản phẩm đa dạng, phục vụ tối đa mọi nhu cầu của khách hàng” (Nguyễn Thu Hằng, 2014). Không những cung cấp riêng dịch vụ cho vay, NHTM còn kết hợp giới thiệu những sản phẩm dich vụ khác cho người tiêu dùng nhằm tăng doanh thu, ví dụ như bảo hiểm.
Thế nên, hoạt động cho vay khách hàng cá nhân nói riêng và hoạt động cho vay nói chung mang lại rất nhiều lợi nhuận cho NHTM. ❖ Đối với khách hàng NHTM cung cấp những khoản vốn cần thiết cho các cá nhân, thứ nhất là để họ đầu tư vào công việc kinh doanh, sản xuất, thứ hai là hỗ trợ những cá nhân có thu 12 nhập thấp hay đang mắc nợ xấu. KH có thể lựa chọn giữa các gói sản phẩm vô cùng đa dạng mà NHTM cung cấp như vay ngắn hạn, vay dài hạn, cho vay tiêu dùng, v,v phù hợp với nhu cầu cá nhân. “Mặt khác việc vay vốn NH giúp KH tập trung được vốn kinh doanh, giảm chi phí huy động và chủ động trong việc hoàn trả gốc và lãi theo hợp đồng.
Trong trường hợp KH không thể thanh toán được gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn vì nguyên nhân chủ quan và khách quan, những thỏa thuận khác giữa NH và KH khi hết hợp đồng cho vay như: trợ giúp vốn cho doanh nghiệp, gia hạn hợp đồng cho vay phần nào đã tạo điều kiện cho KH giải quyết được các khó khăn tạm thời về vốn trong kinh doanh, tránh được nguy cơ phá sản và hoàn trả nợ cho NH” (Đinh Thị Thùy Nga, 2010). Các phương thức cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thương mại “Phương thức cho vay là tổng hợp các cách tính toán cho vay, thu nợ dựa vào tính chất và cách xác định đối tượng cho vay” (Trương Thị Hồng, 2006). Tùy vào đặc điểm kinh doanh và đối tượng KH mà mỗi NHTM sẽ áp dụng phương thức cho vay khác nhau. Hiện nay, các NHTM vận dụng rất nhiều phương thức cho vay khác nhau để phù hợp với nhiều đối tượng KH vì thế mà hoạt động kinh doanh tiến triển rất thuận lợi.
Các phương thức cho vay ở Việt Nam đều dựa theo Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, có thể kể đến: cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn, cho vay từng lần, cho vay theo hạn mức tín dụng, cho vay theo dự án đầu tư, v,v. Theo thời hạn vay Cho vay ngắn hạn: là khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 12 tháng. Lãi suất cho vay ngắn hạn sẽ được NHTM và KH thỏa thuận, tuy nhiên không được vượt quá lãi suất của NHNN đã quy định. Loại cho vay này phù hợp với doanh nghiệp và cá nhân không có nhu cầu vay vốn thường xuyên hoặc vay có tính chất mùa vụ.
Cho vay trung hạn: là khoản vay có thời hạn cho vay từ 1 năm đến 5 năm. Loại hình cho vay này thường được các doanh nghiệp chọn để đầu tư dự án, mua mới tài sản cố định hoặc các cá nhân cần thời gian dài để xoay sở vốn. Cho vay trung hạn cho phép KH thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay làm TSĐB. 13 Cho vay dài hạn: là khoản vay có thời hạn cho vay trên 5 năm.
Đối tượng thường là cá nhân hoặc doanh nghiệp cần vay vốn giá trị lớn. Do thời hạn cho vay cao nhất, NHTM có xu hướng tính lãi suất cho vay dài hạn cao hơn cho vay ngắn và trung hạn để bù đắp cho những rủi ro biến động thị trường có thể xảy ra. Theo hình thức vay Cho vay từng lần: mỗi lần vay, KH và NHTM làm thủ tục vay cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng. Phương thức này thường được áp dụng cho KH không có nhu cầu vay thường xuyên hoặc vay có tính thời vụ.
Món cho vay là một dự án hoặc kế hoạch được NHTM cho vay bổ sung, vay tiêu dùng, vay trả góp ngắn hạn hoặc dài hạn có đảm bảo hoặc không có đảm bảo (Nguyễn Thị Loan, 2017). Đối với phương thức này, KH sẽ là những người không có nhu cầu vay vốn thường xuyên vì vậy mỗi lần vay vốn họ sẽ lập một bộ hồ sơ khác nhau. Hoặc đây là đối tượng KH mà NHTM đánh giá có độ tín nhiệm không cao, vì vậy họ từ chối cho KH vay một khoản lớn mà chấp nhận phương thức từng lần để dễ dàng kiểm soát rủi ro khoản vay hơn. Chính vì đặc điểm này mà NHTM cũng dễ dàng kiểm soát các khoản vay riêng biệt.
Cho vay trả góp: cho vay trả góp là khi vay vốn, NHTM và KH xác định, thoả thuận số lãi vốn vay phải trả cộng với số nợ gốc được chia ra để trả nợ theo nhiều kỳ hạn trong thời hạn cho vay. Có nghĩa là, phương thức cho vay trả góp sẽ có khoản lãi vay phải trả cộng với số tiền vay ban đầu sẽ được chia đều cho mỗi kỳ nên số tiền trả nợ các kỳ đều nhau và chu kỳ trả nợ như nhau. Cho vay theo hạn mức tín dụng: theo Khoản 4 Điều 27 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN, “Cho vay theo hạn mức là khi NHTM xác định và thỏa thuận với KH một mức dư nợ cho vay tối đa được duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong hạn mức cho vay, NHTM thực hiện cho vay từng lần.
Một năm ít nhất một lần, NHTM xem xét, xác định lại mức dư nợ cho vay tối đa và thời gian duy trì mức dư nợ này”. 14 Đối tượng KH của loại cho vay này là những người có nhu cầu vay vốn thường xuyên. Theo loại hình này, KH chỉ cần lập hồ sơ vào lần đầu đi vay và NHTM sẽ tự cấp tín dụng trong khoảng thời gian thỏa thuận. KH cũng linh động hơn khi sử dụng nguồn vốn.
Tuy nhiên, ngược lại với KH, NHTM cần trữ một lượng tiền vốn nhất định để đáp ứng cho người đi vay. Nguyên tắc cho vay Nguyên tắc hoàn trả: KH có nghĩa vụ hoàn trả toàn bộ vốn gốc và lãi vay đúng thời hạn theo thỏa thuận ban đầu cho NHTM để NHTM có thể đảm bảo mức vốn tối thiểu để duy trì hoạt động. Nguyên tắc tài sản đảm bảo: khi KH vi phạm điều khoản vay vốn bất kỳ hoặc KH sở hữu tài sản thế chấp không còn khả năng thanh toán cho NHTM, các TSĐB như hàng tồn kho, tài sản cố định, giấy tờ có giá, v,v giúp NHTM đảm bảo nguồn vốn.