Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tiễn về ý định tiêu ding sản phẩm xanh Chương 2: Phương pháp nghiên cứu Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương 4: Giải pháp và khuyến nghị Danh mục tài liệu tham khảo Phụ lục 12 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ THUYET VÀ THUC TIEN VE Ý ĐỊNH TIÊU DUNG SAN PHAM XANH 1. Các khái niệm chung 1. Ý định Theo Fishbein & Ajzen (1975), ý định là một khái niệm đại diện nhận thức về động cơ của một người dé thực hiện một hành vi, dựa trên niềm tin của họ về kết quả của hành vi và khả năng của họ đề thực hiện hành vi đó. Ý định là một yếu tố dự đoán chính của hành vi (AJzen, 1985).
Ajzen (1991) cho rằng ý đề cập đến sự sẵn sang của một cá nhân dé thực hiện một hành vi cụ thé, bi ảnh hưởng bởi thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Tóm lại, ý định là yếu tổ dự đoán tốt nhất của hành vi cụ thể. Nó đề cập đến động lực và sự sẵn sảng của một người đề thực hiện một hành động cụ thể, với các nguồn lực sẵn có và điều kiện môi trường xung. Ý định thường được đo lường thông qua bảng câu hỏi tự báo cáo đánh giá ý định của một người dé thực hiện một hành vi cu thể (Jago & Vroom, 1978).
Những bảng câu hỏi này thường yêu cầu người tham gia đánh giá ý định thực hiện hành vi của ho theo thang do Likert từ 1 (rất không đồng ý) đến 5 (rất đồng ý). Sản phẩm xanh Theo Marron (1997) sản phẩm xanh chỉ đơn giản là những sản phẩm tốt hơn cho môi trường. Janssen & Jager (2002) định nghĩa răng sản phẩm xanh là các sản phẩm có thiết kế thay thế sao cho cần ít tài nguyên vật chất hơn trong suốt vòng đời của nó. Osada (2003) cho rằng một sản phẩm xanh là sản phẩm góp phần bảo vệ hoặc bảo tồn môi trường.
Sản phẩm xanh là sản phẩm đạt được một trong 2 tiêu chí: giảm chất thải, hoặc tối ưu hóa hiệu quả sử dụng nhiên liệu (Wee & Quazi, 2005). Phát triển sản phẩm xanh giải quyết các van đề môi trường thông qua thiết kế và đổi mới sản phẩm (Chen, 2008). Theo D'Souza & cộng sự (2006) sản phẩm xanh đại diện cho một thành tựu đáng kê trong việc giảm tác động môi trường; đó là những sản phẩm có thé tái chế, giảm đóng gói bằng bao bì hoặc sử dụng vật liệu ít độc hại hơn. 13 Nói chung, sản phẩm xanh là sản phẩm được thiết kế dé giảm thiểu tác động môi trường trong toàn bộ vòng đời của nó.
Đặc biệt, việc sử dụng tài nguyên không thể tái tạo (tài nguyên hóa thạch) được giảm thiêu, tránh các vật liệu độc hại và gây hại đối với cả con người va môi trường. Tiêu dùng Khái niệm tiêu dùng đã xuất hiện từ rất lâu trong tài liệu Adam Smith (1776) trong tác phẩm "của cải của các quốc gia" đã định nghĩa tiêu dùng là giai đoạn cuối cùng trong quá trình trao đôi kinh tế, nơi hàng hóa và dịch vụ được sử dụng hoặc tiêu dùng bởi các cá nhân dé đáp ứng mong muốn và nhu cau của ho. Thorstein Veblen (1899) trong cuốn sách "The Theory of the Leisure Class" đã mô tả tiêu dùng như một cách dé các cá nhân thể hiện địa vị xã hội và sự giàu có của họ thông qua việc trưng bày những hàng hóa xa xỉ đễ thấy John Maynard Keynes (1936) trong "lý thuyết tổng quát về việc làm, lãi suất và tiền tệ" lập luận rằng tiêu dùng là động lực chính của tăng trưởng kinh tế và các chính sách của chính phủ nên nhằm mục đích kích thích chỉ tiêu của người tiêu dùng trong thời kỳ suy thoái kinh tế. Tóm lại, tiêu dùng là quá trình sử dụng hàng hóa hoặc dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn của con người.
Mức tiêu thụ có thê được đo lường theo nhiều cách khác nhau, chang han nhu số tiền đã chi tiêu, số lượng hàng hóa hoặc dịch vụ có được hoặc tác động môi trường của việc sản xuất và thải bỏ những hàng hóa hoặc dịch vụ đó. Tiêu dùng có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến các cá nhân, xã hội và hành tinh, tùy thuộc vào cách thức và những gì mọi người tiêu thụ. Ví dụ, tiêu dùng có thé cải thiện mức sông, tạo việc lam và hỗ trợ đôi mới, nhưng nó cũng có thê dẫn đến tiêu dùng quá mức, lãng phí, ô nhiễm và bất bình đăng. Người tiêu dùng Theo Kotler (2009) "Người tiêu dùng là một cá nhân mua sản pham hoặc dịch vu dé sử dụng cá nhân chứ không phải dé sản xuất hoặc bán lại.
Định nghĩa này rất giống với Engel, Blackwell và Miniard (1986) khi chỉ ra rằng "Người tiêu dùng là một cá nhân mua hàng hóa hoặc dịch vụ cho nhu cầu cá nhân chứ không phải dé bán lại hoặc xử lý thêm.” Theo Solomon & Panda (2004), người tiêu dùng là người mua hàng hóa, dịch vụ 14 hoặc trải nghiệm đê sử dụng cho mục đích cá nhân hoặc hộ gia đình hoặc người nhận quà tặng. Nhìn chung, có thể hiểu rằng người tiêu dùng là những cá nhân hoặc nhóm mua, sử dụng hoặc có ý định sử dụng hàng hóa, sản phẩm hoặc dich vụ cho nhu cầu cá nhân, xã hội, gia đình hoặc hộ gia đình của họ. Người tiêu dùng không tham gia vào các hoạt động kinh doanh hoặc kinh doanh liên quan đến sản xuất hoặc phân phối những hàng hóa, sản phẩm hoặc dịch vụ đó. Ÿ định tiêu dùng Ý định tiêu dùng dé cập đến kế hoạch hoặc mong muốn của một cá nhân dé mua và tiêu thụ một sản phẩm hoặc dịch vụ (Ajzen & Fishbein, 1980).
Theo Bagozzi & Warshaw (1990), ý định tiêu dùng là kế hoạch hoặc quyết định của một người tham gia vào một hành vi cụ thê liên quan đến việc mua và sử dụng sản phẩm hoặc dịch vụ. Tương tự như vậy, Shimp & Madden (1988) cho rằng ý định tiêu dùng là kế hoạch hoặc quyết định có ý thức của một cá nhân dé mua và sử dụng một sản phẩm hoặc dịch vụ. Lee & Kacen (2008) có cùng chung quan điểm khi phát biểu răng ý định tiêu dùng là mức độ sẵn sảng của một cá nhân dé mua và tiêu dùng một sản phẩm hoặc dịch vụ. Từ các khái niệm nêu trên, có thể hiểu ý định tiêu dùng là khái niệm chỉ mức độ mong muốn hoặc sẵn sảng của một cá nhân dé tiêu dùng một sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định.
Ý định tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, chăng hạn như thái độ cá nhân, chuẩn mực chủ quan, kiểm soát hành vi nhận thức và giá trị nhận thức (AJzen & Fishbein, 1980; Ajzen, 1991). Ý định tiêu dùng thường được sử dụng như một yêu tố dự đoán hành vi tiêu dùng thực tế, vì nó phản ánh động cơ và ý định của người tiêu dùng. Ý định tiêu dùng sản phẩm xanh a. Khái niệm Theo OECD (2002), tiêu dùng xanh, hay còn gọi là tiêu dùng bền vững, bao gồm một loạt các thay đôi trong hành vi, chăng hạn như hiệu quả cao hơn trong việc tiêu thụ năng lượng và tài nguyên, giảm thiểu chất thải và thói quen mua sắm thân thiện với môi trường hơn của các hộ gia đình.
Theo Nguyễn Hữu Thụ (2014) được xem là các hành động tìm kiếm, mua và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của cá nhân, nhóm với mục đích 15 giảm thiêu các chat thải gây 6 nhiễm môi trường, bảo đảm an toàn cho sức khỏe cộng đồng được thể hiện qua nhận thức, thái độ và hành động cụ thé. Một số lợi ích của việc tiêu dùng xanh: Tiêu dùng xanh giúp giảm thiêu tác động tiêu cực từ các hoạt động của con người đến môi trường (Minh Vũ, 2019). Bằng cách lựa chọn các sản phẩm và dịch vụ được sản xuất bền vững, sử dụng ít năng lượng và tài nguyên, và ít tạo ra chất thải và ô nhiễm, người tiêu dùng có thé góp phan bảo vệ môi trường tự nhiên và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên cho các thế hệ tương lai. Tiêu dùng xanh cũng có thé góp phan giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu (Lê Trung Thành, 2021).
Bằng cách chọn các sản phẩm và dịch vụ thải ra ít khí nhà kính hơn hoặc có lượng khí thải carbon nhỏ hơn, người tiêu dùng có thể giúp giảm lượng khí thai carbon của cá nhân và tập thé, điều nay có thé giúp làm chậm tốc độ biến đôi khí hậu. Bên cạnh đó, nhiều sản phẩm xanh tốt cho sức khỏe hơn đối với người sử dụng so với các sản phẩm không xanh (Hoàng Trọng Hùng và cộng sự, 2018). Ví dụ, thực phẩm hữu cơ không chứa thuốc trừ sâu và phân bón tông hợp có thé gây hại cho sức khỏe con người và các sản phẩm làm sạch xanh ít có khả năng chứa hóa chất độc hại có thê gây hại cho sức khỏe đường hô hấp. Tiêu dùng xanh cũng có thé mang lai lợi ích kinh tế (Sinnappan, 2011).
Bang cách hỗ trợ các hoạt động sản xuất bền vững và các doanh nghiệp thân thiện với môi trường, người tiêu dung có thé giúp tạo ra một nền kinh tế bền vững hon, ít phụ thuộc vào các nguồn tài nguyên không thé tái tạo và tạo ra ít chất thải va ô nhiễm hơn. Cuối cùng, tiêu dùng xanh có thé trao quyền cho người tiêu dùng dé tao ra sự khác biệt tích cực trên thế giới (Rahman, 201 1). Bằng cach đưa ra những lựa chon sang suốt về các sản phẩm va dich vụ mà ho mua, người tiêu dùng có thé gửi thông điệp tới các nhà sản xuất và các nhà hoạch định chính sách về sở thích của họ đối với các lựa chọn thân thiện với môi trường. Điều này có thé giúp thúc day sự thay đổi hướng tới các mô hình sản xuât và tiêu dùng bên vững hơn.
Khái niệm Xe máy điện là phương tiện hai bánh chạy bằng động cơ điện và bộ pin. Không giống như xe máy chạy bằng xăng truyền thông, xe máy điện không cần nhiên liệu hóa thạch dé vận hành va không tạo ra khí thải khi sử dụng. Động cơ và pin hoạt động cùng nhau dé cung cấp năng lượng cho các bánh xe, cho phép người lái tăng tốc, phanh va điều khiển phương tiện giống như một chiếc xe máy thông thường. Xe máy điện ngày càng trở nên phổ biến do tính bền vững với môi trường, tiết kiệm năng lượng và chi phí vận hành thấp (Vinfast, 2020).
Xe máy điện có thể được coi là sản phẩm xanh vì chúng không tạo ra khí thải từ ống xả khi sử dụng (Chen, et al.