Mở đầu Tổng quan về đề tài, lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa và cấu trúc của luận văn Chương 2: Tong quan Trình bày tổng quan một số đề tài trong và ngoài nước, công trình khoa học có liên quan đến đề tài nghiên cứu cũng như các mô hình thực nghiệm đã được dùng và địa bàn nghiên cứu. Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu Trình bày cơ sở lí luận về khái niệm về dịch vụ Grabbike, cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ và sự hài lòng. Bên cạnh đó, cũng trình bày về mô hình nghiên cứu. Cuối cùng là trình bày về phương pháp nghiên cứu gồm phương pháp thu thập sé liệu, phương pháp phân tích và xử lý số liệu, quy trình nghiên cứu, thang đo và các khái niệm nghiên cứu mà tác giả đã đề ra.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Trình bày kết quả thống kê mô tả, đánh giá độ tin cậy thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’ Alpha, phân tích nhân tố khám phá EFA, tương quan Pearson, hồi quy đa biến, kiểm định sự khác biệt trung bình ANOVA và đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đây kinh doanh thị trường Grabbike hiện nay. Chương 5: Kết luận và đề nghị Tóm tắt và thảo luận kết quả nghiên cứu, các đóng góp về mặt phương pháp nghiên cứu và trình bày các hạn chê của nghiên cứu. CHƯƠNG 2 TONG QUAN 2.1 Tong quan về các tài liệu nghiên cứu 2.1 Nghiên cứu trong nước Nghiên cứu “Nhân tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ xe ứng dụng công nghệ Grab trên địa bàn thành phố Huế” của nhóm tác giả Ngô Minh Tâm, Huỳnh Thị Thanh Tâm và Ngô Minh Tiến được thực hiện nhằm xác định, đánh giá và phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến hành vi sử dung dich vụ xe ứng dung công nghệ Grab ở thành phố Huế. Nghiên cứu đã tiến hành tìm hiểu thực trạng về tình hình sử dụng dịch vụ Grab và khảo sát 100 sinh viên và 100 người đã sử dụng dịch vụ này về nhân tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ.
Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng phương pháp thống kê mô tả, phân tích và xác định mô hình hồi qui các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng dịch vụ Grab của sinh viên. Kết quả nghiên cứu cho thấy có 04 nhóm nhân tố ảnh hưởng chính đến hành vi sử dụng dịch vụ Grab của là Sự hữu ích cảm nhận, Chuẩn mực chủ quan, Tinh dé dang sử dụng và Giá cả. Đây là một nghiên cứu mới về dich vụ ứng dụng công nghệ - Grab tại thành phố Huế, là cơ sở dé phát triển và day mạnh hoạt động kinh doanh của dịch vụ tại thị trường Huế cũng như các thị trường lân cận. Qua các phân tích, nhóm tác giả đã đưa ra một số giải pháp dé thúc day hành vi sử dụng dịch vụ Grab của giới trẻ trên địa bàn thành phố Huế theo hướng tích cực như: Giải pháp dựa trên nhóm yếu tô “Sự hữu ich cảm nhận” Giải pháp dựa trên nhóm yếu tô “Chuân mực chủ quan” Giải pháp dựa trên nhóm yếu tô “Tính dé dang sử dụng” Giải pháp dựa trên nhóm yếu tô “Giá trị giá cả” Tuy nhiên, hạn chế của đề tài là mẫu khảo sát còn giới hạn, giải pháp tác giả đưa ra còn mang tính khái quát, chưa chỉ tiết.
Mặc dù vậy, nghiên cứu cũng đã phần nào đóng góp về mặt lý luận mô hình các biến đo lường tác động đến hành vi sử dụng dịch vụ Grab của giới trẻ để làm cơ sở cho các hướng nghiên cứu sau này. Nghiên cứu của nhóm tác giả Dương Công Huân, Phan Thị Hão “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dịch vụ đặt xe công nghệ GRAB tại thành phố Đà Nẵng” đã đạt được mục tiêu đặt ra là: -Tim ra được những nhân tố anh hưởng đến sự hài lòng khách hàng khi sử dụng dich vụ đặt xe công nghệ Grab -Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này lên sự hài lòng chung của khác hàng. Dữ liệu được thu thập thông qua bảng khảo sát các khách hàng của Grab tại thành phố Da Nẵng. Kết quả nghiên cứu cho thấy 4 nhân tố trong mô hình mà nhóm đã dé xuất thì có 4 nhân tố có ảnh hưởng đến sự hài lòng chung của khách hàng bao gồm: chất lượng thông tin, chất lượng hệ thống, chất lượng dịch vụ và sự hài lòng.
Điều này có nghĩa là càng cải thiện chất lượng trong cung cấp dịch vụ cho khách hàng thì sự hài lòng của họ sẽ càng cao. Nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của khách hàng đối với dich vụ đặt xe công nghệ Grab tại khu vực TPHCM” của tác giả Huỳnh Thị Ngọc Diễm, Trần Thị Hoàng Vy thuộc Khoa Quản trị Kinh doanh, Trường Đại học Công nghệ TP. Hồ Chí Minh là bài nghiên cứu kết hợp giữa hai phương pháp định tính và định lượng. Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ 195 khách hàng trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh.
Số liệu nghiên cứu được xử lý bằng phần mềm SPSS 20. Bài nghiên cứu đã khám phá ra các nhân tố quan trọng: Chính sách; Nhân viên; Truyền thông và Giá cả tác động đến sự hài lòng khách hàng khi sử dụng dịch vụ xe ôm công nghệ - Grab. Bai nghiên cứu đã tập trung phân tích sự ảnh hưởng của những nhân tổ này đến sự hài lòng chung của khách hàng đối với dịch vụ xe ôm công nghệ Grab trong đó, “Chính sách” và, “Truyền thông” là hai nhân tố có sự ảnh hưởng lớn nhất, hai yếu tố còn lại có mức độ tác động tương đương nhau. Từ việc phân tích ưu - nhược điểm có được sau khi nghiên cứu, bài nghiên cứu đã tiến hành đề xuất nhiều giải pháp trên tất cả các mặt của hoạt động kinh doanh, đặc biệt bao gồm cả 4 nhân tố ảnh hưởng, nhằm phát huy hơn nữa những thế mạnh của Grab và cải thiện những điều còn hạn chế của doanh nghiệp.2 Nghiên cứu của nước ngoài Theo nghiên cứu của Arumugam và các cộng sự, năm 2020 về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ đặt xe công nghệ ở Malaysia, bài báo khái niệm này được hình dung dé thiết lập các tiền đề về ý định sử dụng dịch vụ gửi thư điện tử của người tiêu dùng theo quan điểm của người Malaysia.
Tổng số mười một nghiên cứu liên quan đến hành vi có ý định áp dung dịch vụ di xe theo yêu cầu đã được xem xét và phân tích. Một phân tích tần số được sử dụng để xác định các biến độc lập và người điều tiết cho sự phát triển của khung khái niệm. Phát hiện chỉ ra rằng tính hữu ích được nhận thay sau day, tính dé sử dung, tính tương thích, lợi thế tương đối và sự an toàn đang ảnh hưởng đáng ké đến sự hài lòng của người dùng đối với dịch vụ gọi xe. Bên cạnh đó, các chuẩn mực chủ quan có tác động trực tiếp đến hành vi có ý định sử dụng dịch vụ e-hailing hỗ trợ Thuyết hành động có lý do (TRA) và Thuyết hành vi có kế hoạch (TPB).
Luận văn “IMPACT OF GRAB ON SINGAPORE BECOMING A CAR-LITE SOCIETY” của tac gia WEE WEI YEW va LEONARD DAVID cho rang, sự ra đời của dich vu Grab ở Singapore từ năm 2013 đã mang đến cho người đi làm một phương thức vận tải thay thế cho phương tiện truyền thống với sự tiện lợi và tiết kiệm chỉ phí hơn. Trong 5 năm qua, các nền tảng gọi xe như Grab đã cung cấp dịch vụ di lai và lấp đầy khoảng trống nhu cầu mà ngành taxi đề lại. Mặc dù ngành công nghiệp gọi xe của Singapore từng bị thống trị bởi Uber và Grab, nhưng việc họ mua lại các hoạt động ở Đông Nam Á gần đây vào tháng 3 năm 2018 đã gây ra một cuộc tranh luận lớn trong công chúng vì cạnh tranh ít hơn đồng nghĩa với việc giá đi xe cao hơn và ít chiết khấu hơn. Luận án này nhằm mục đích nghiên cứu tác động của Grab đối với lượng người đi phương tiện giao thông công cộng và tình trạng tắc nghẽn giao thông.
Nhóm tác giả đã thực hiện một cuộc khảo sát trực tuyến đề thu thập thông tin về hành vi đi làm bằng Grab và ý kiến của người dùng về Grab. Kết quả khảo sát cho thấy phần lớn người tham gia ủng hộ các dịch vụ của Grab, trong đó sự tiện lợi là lý do chính dé sử dụng dịch vụ đặt xe. Có giả thiết cho rằng tần suất gọi xe không ảnh hưởng đến tần suất sử dụng phương tiện giao thông công cộng và không ảnh hưởng đến sự thay đổi nhận thức về tình trạng tắc nghẽn giao thông do Grab gây ra. Phân tích thống kê cũng cho thấy tần suất đi xe Grab cao hơn dẫn đến việc ít người sử dụng phương tiện giao thông công cộng hơn.
Những người tham gia thường xuyên sử dụng dịch vụ gọi xe có xu hướng đồng ý cao hơn rằng dịch vụ gọi xe giúp giảm tắc nghẽn giao thông ở Singapore. Hơn nữa, những người hài lòng hơn với các dịch vụ của Grab nhận thấy việc sở hữu ô tô không còn là điều cần thiết do đó ủng hộ tầm nhìn của Singapore về phát triển địch vụ gọi xe Grab. Nghiên cứu này kết luận rằng Grab nên tiếp tục hợp tác với các cơ quan chức năng cho các mục đích lập kế hoạch vận tải trong tương lai.2 Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 2.1 Dac điểm tự nhiên Địa hình: không phức tạp nhưng cũng khá đa dạng, có điều kiện để phát triển nhiều mặt. Thành phố có 2 đặc điểm địa hình chủ yếu sau: + Địa hình đồng bằng thấp (nơi cao nhất không vượt quá 40m, nhiều chỗ còn thấp trũng), bề mặt tương đối bằng phẳng và bị chia cắt bởi các mạng lưới sông ngòi và kênh rạch dày đặc.
+ Địa hình có xu hướng thấp dan từ phía tây bắc xuống đông nam, nhưng độ dốc nhỏ giống với đại hình chung đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ. — Khí hậu: Thành phố Hồ Chí Minh thuộc vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Nhiệt độ cao đều trong năm và có hai mùa mưa — khô rõ ràng, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau.