CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ KHUNG LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan nghiên cứu Cho đến nay, các công trình nghiên cứu có liên quan tới chủ đề về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua BHXH tự nguyện đã được các nhà khoa học tiến hành ở trong nước và nước ngoài là khá đa dạng, với nhiều góc độ tiếp cận khác nhau.1 Các nghiên cứu về phát triển BHXH tự nguyện Jowett và Thompson (1999) đã thực hiện nghiên cứu với đề tài “Chi trả cho chăm sóc sức khỏe tại Việt Nam: Mở rộng sự tham gia vào bảo hiểm sức khỏe tự nguyện”. Mục đích của nghiên cứu là tổ ng hợp từ các báo cáo và dự án nghiên cứu được thực hiện bởi Chương trình quốc tế tại Trung tâm kinh tế sức khỏe, liên quan đến hệ thống sức khỏe tại Việt Nam trong thời gian 4 năm tính đến thời điểm thực hiện nghiên cứu. Nghiên cứu này tập trung vào mục đích phát triển các chương trình bảo hiểm sức khỏe tự nguyện của nhà nước, tiếp nối các nghiên cứu trước đó được thực hiện bởi các thành viên của chương trình quốc tế bao gồm việc đánh giá tác động của cải cách kinh tế lên hệ thống sức khỏe, đánh giá tác động của các chi phí người dân nghèo phải trả để tiếp cận với các dịch vụ y tế, và một báo cáo phân tích chương trình bảo hiểm y tế quốc gia. Công trình nghiên cứu được thực hiện dựa trên cơ sở dữ liệu khảo sát quy mô lớn các hộ gia đình, đã phân tích các kinh nghiệm về bảo hiểm tự nguyện, đưa ra các giải pháp cho các nhà hoạch định chính sách về các kế hoạch phát triển trong tương lai, trình bày các thực trạng, chỉ ra các điểm phát triển chính, các thành công và thất bại, và các thách thức chính mà dự án đang phải đối mặt.
Trần Quốc Toàn và Lê Trường Giang (2001) đã thực hiện đề tài nghiên cứu với chủ đề “Các giải pháp thực hiện Bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với lao động thuộc khu vực nông, ngư và tiểu thủ công nghiệp”, công bố tại Viện Khoa học bảo hiểm. Đề tài đã nghiên cứu, tổ ng hợp và hệ thống hoá theo logic, hợp lý, chặt chẽ những vấn đề lý luận khoa học về BHXH tự nguyện như nguyên tắc đoàn kết, tương trợ giữa những người tham gia BHXH tự nguyện và vai trò của Nhà nước trong việc 8 hỗ trợ quỹ và bảo toàn, phát triển quỹ BHXH tự nguyện. Nghiên cứu đã đề cập các nhân tố ảnh hưởng tới việc tổ chức thực hiện BHXH tự nguyện, trong đó đi sâu vào đặc điểm lao động và tiêu thụ sản phẩm trong nông nghiệp, thủy sản và tiểu thủ công nghiệp để đánh giá khả năng tham gia BHXH của người lao động, làm cơ sở cho các nhà hoạch định chính sách nghiên cứu, xây dựng cơ chế, chính sách. Bên cạnh đó các tác giả đã sử dụng toán học, mô hình học để chứng minh sự mất cân đối quỹ BHXH nông dân theo chính sách của UBND tỉnh Nghệ An, từ đó khuyế nghị với UBND tỉnh trong việc ban hành Quyết định số 32/2001/QĐ-UB về việc ban hành điều lệ BHXH nông dân thay thế Quyết định số 1210/1998/QĐ-UB ngày 30/07/1998 về việc ban hành điều lệ tạm thời.
Đặc biệt, đề tài đã đề cập tới mối liên hệ giữa BHXH tự nguyện với BHXH bắt buộc và đề xuất chuyển đổ i BHXH nông dân sang loại hình BHXH tự nguyện (do mức đóng BHXH nông dân quá thấp, không phù hợp với BHXH bắt buộc). Đây là cơ sở để hạn chế việc mở rộng phạm vi thực hiện BHXH nông dân. Tác giả Nguyễn Tiến Phú (2001) đã thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Cơ sở lý luận về việc thực hiện các loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam” thuộc cơ quan Bảo hiểm xã hội Việt Nam. Nghiên cứu này mới chỉ dừng ở việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, làm cơ sở khoa học cho việc thực hiện loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam, chưa đi sâu nghiên cứu về nội dung, hình thức, tổ chức quản lý quá trình phát triển loại hình BHXH tự nguyện.
Trần Quốc Toàn (2001) với đề tài khoa học “Các giải pháp thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện đối với người lao động thuộc khu vực nông, ngư và diêm nghiệp”, cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Nghệ An. Đề tài đã đề cập một số nét khái quát về BHXH tự nguyện, phân tích các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực hiện BHXH tự nguyện, khả năng tham gia, nhu cầu tham gia BHXH tự nguyện, những vấn đề rút ra từ thực tế hoạt động của BHXH nông dân Nghệ An, đề xuất các giải pháp, kiến nghị và các điều kiện thực thi giải pháp thực hiện BHXH tự nguyện đối với người lao động thuộc khu vực nông, ngư và diêm nghiệp. Đề tài dừng lại ở phạm vi 9 cấp tỉnh và đối tượng là lao động thuộc khu vực nông, ngư và diêm nghiệp, chưa mở rộng phạm vi và đối tượng nghiên cứu. Mossialos và Thomson (2004) trong một nghiên cứu về “Bảo hiểm sức khỏe tự nguyện ở Liên minh Châu Âu” đã cung cấp thông tin tổ ng thể về thị trường bảo hiểm sức khỏe tự nguyện trong Liên minh Châu Âu (EU).
Nghiên cứu đánh giá vai trò của bảo hiểm tự nguyện trong việc cung cấp các cơ hội tiếp cận với chăm sóc sức khỏe; đánh giá các tác động của nó đến sức khỏe con người và các dịch vụ đi kèm có thể di chuyển tự do; và phân tích các xu hướng và thách thức trong tương lai đối với những người đóng bảo hiểm tự nguyện và cho các nhà hoạch định chính sách cấp quốc gia nói riêng và EU nói chung. Bùi Văn Hồng (2004) với đề tài khoa học “Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia BHXH đối với người lao động tự tạo việc làm”, Trung tâm nghiên cứu khoa học BHXH, Hà Nội. Đề tài đã đưa ra khái niệm và đặc điểm của lao động tự tạo việc làm, đánh giá thực trạng lao động tự tạo việc làm ở nước ta. Đề xuất loại hình BHXH thích hợp, chế độ trợ cấp, cơ chế đóng và hưởng cho các đối tượng này.
Nghiên cứu dừng lại ở việc đưa ra các đề xuất để mở rộng đối tượng tham gia BHXH đối với người lao động tự tạo việc làm, chưa mở rộng cho lao động là nông dân, lao động tự do tham gia, phương pháp nghiên cứu chủ yếu mang tính mô tả, phân tích thực trạng bằng những số liệu thứ cấp. Nguyễn Anh Vũ (2004) với đề tài khoa học “Cơ sở khoa học quản lý và tổ chức thu BHXH tự nguyện”, Ban Thu BHXH, Hà Nội. Đề tài nêu lên những cơ sở khoa học để nghiên cứu tình hình thu BHXH tự nguyện, phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý và thực hiện thu BHXH tự nguyện, thực trạng tham gia BHXH tự nguyện qua việc thực hiện thí điểm ở Việt Nam, qua đó xây dựng mô hình quản lý thu BHXH tự nguyện và đưa ra các giải pháp tổ chức thực hiện thu BHXH tự nguyện có hiệu quả. Đề tài dừng lại ở việc đưa ra mô hình quản lý thu BHXH tự nguyện, chưa đánh giá được nhu cầu tham gia và những bất cập khi tổ chức triển khai.
10 Trần Đình Liệu (2005) với đề tài khoa học “Tổ chức thực hiện BHXH trong các làng nghề ở Hải Dương - Thực trạng và giải pháp”, cơ quan BHXH tỉnh Hải Dương. Đề tài đã phân tích thực trạng các làng nghề truyền thống của tỉnh, tình hình thực hiện công tác thu, cấp sổ BHXH, đề xuất và kiến nghị về việc thực hiện chế độ BHXH cho lao động làm nghề tại các làng nghề truyền thống của tỉnh, trong đó có phân tích và đưa ra các đề xuất, kiến nghị về cơ sở pháp lý, cơ sở kinh tế, cơ sở xã hội và phương án tổ chức thực hiện BHXH đối với các làng nghề truyền thống ở Hải Dương. Tác giả đề tài cũng đề xuất về đối tượng tham gia, điều kiện đóng, phạm vi áp dụng và mức đóng, phương thức đóng, quyền lợi và điều kiện hưởng, phương thức quản lý và tăng trưởng quỹ, phương hướng xử lý rủi ro. Kế hoạch triển khai với các bước gồm: Tổ chức tuyên truyền giáo dục, xây dựng hệ thống văn bản hướng dẫn, xây dựng hệ thống đại lý, tổ chức hướng dẫn triển khai thực tế tại địa phương, thực hiện các nghiệp vụ chuyên môn bảo đảm quyền lợi cho người lao động.
Như vậy, đề tài dừng lại ở việc nghiên cứu để tổ chức thực hiện BHXH trong các làng nghề ở phạm vi cấp tỉnh, chưa mở rộng phạm vi và đối tượng lao động khác tham gia, phương pháp nghiên cứu đơn giản, chủ yếu là mô tả thực trạng bằng những số liệu thứ cấp. Lê Thị Thu Hương (2007) đã nghiên cứu đề tài “Bảo hiểm xã hội tự nguyện, một số vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng”. Nghiên cứu này mới đề cập đến những qui định của BHXH tự nguyện, các văn bản pháp luật và thực tế áp dụng nhưng qui định pháp luật vào các quan hệ bảo hiểm cụ thể, đưa ra một số giải pháp nhằm đáp ứng các quan hệ pháp luật BHXH tự nguyện. Đồng Quốc Đạt (2008) với công bố khoa học “Bảo hiểm xã hội khu vực phi chính thức ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị”, Tạp chí Kinh tế và Dự báo số 15 (431) (8/2008).
Nội dung bài viết chỉ ra những nguyên nhân vì sao ít người tham gia bảo hiểm xã hội khu vực phi chính thức: do thu nhập thấp và không ổn định, việc làm bấp bênh, thiếu hiểu biết và không có thông tin về chính sách, chế độ BHXH, từ đó đưa ra những giải pháp để thu hút nhiều người lao động trong khu vực phi chính thức tham gia BHXH ở Việt Nam bao gồm: Hình thành quỹ BHXH tự 11 nguyện và có sự bảo hộ của Nhà nước, cải cách thủ tục thanh toán nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tham gia, phối hợp Chương trình BHXH với Chương trình mục tiêu khác như: Chương trình việc làm, giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường thông tin tuyên truyền để nâng cao nhận thức cho người lao động ở khu vực phi chính thức thông qua các phương tiện thông tin đại chúng. Bài viết này có nội dung khá sâu sắc, song do giới hạn trong phạm vi bài báo nên chưa thực sự đề cập đến công tác tổ chức triển khai BHXH ở khu vực phi chính thức của Việt Nam. Đỗ Thị Xuân Phương (2010) với đề tài khoa học “Đánh giá 3 năm triển khai Luật BHXH”, cơ quan BHXH Việt Nam, Hà Nội.