Tổng quan nghiên cứu

Ngành công nghiệp luyện kim và sản xuất than cốc đóng vai trò trụ cột trong nền kinh tế, với sản lượng than cốc tại Việt Nam đạt khoảng 9,52 triệu tấn mỗi năm, trong khi nhu cầu phục vụ luyện gang lò cao nội địa rơi vào khoảng 3,5 triệu tấn mỗi năm. Tuy nhiên, quá trình làm mát khí than và dập cốc phát sinh lượng nước thải công nghiệp khổng lồ, dao động từ 0,3 đến 4 mét khối trên mỗi tấn than cốc thành phẩm. Điển hình tại Nhà máy Cốc hóa thuộc Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên, lượng nước thải chứa độc chất hữu cơ phát sinh từ 40 đến 45 mét khối mỗi ngày và tổng lượng nước cần xử lý để tái sử dụng dập cốc lên tới khoảng 77 mét khối mỗi ngày.

Nguồn nước thải luyện cốc là một trong những loại nước thải công nghiệp phức tạp và độc hại nhất hiện nay. Hàm lượng các chất ô nhiễm trong dòng thải thô ghi nhận ở mức rất cao: phenol dao động từ 889 đến 943 mg/L, nhu cầu oxy hóa học COD từ 625 đến 5038 mg/L, BOD5 từ 98 đến 421 mg/L, amoni NH4+-N từ 936 đến 2556 mg/L, xyanua CN- lên tới 103 mg/L và dầu mỡ khoáng đạt 260 mg/L. Nồng độ phenol và amoni vượt quy chuẩn cho phép hàng trăm lần, tạo ra độc tính cực lớn ức chế hoàn toàn hệ vi sinh vật trong các công trình xử lý sinh học truyền thống như bể Aeroten đơn thuần.

Đề tài nghiên cứu được thực hiện tại Đại học Thái Nguyên nhằm giải quyết mục tiêu chế tạo hệ tích hợp công nghệ: sử dụng vật liệu nội điện phân Fe-C và Fe-Cu làm giai đoạn tiền xử lý nhằm phá vỡ cấu trúc hợp chất vòng thơm khó phân hủy, kết hợp với hệ thống sinh học thiếu khí - kỵ khí - hiếu khí cải tiến sử dụng màng sinh học chuyển động A2O-MBBR. Nghiên cứu tập trung vào phạm vi mẫu nước thải thực tế tại Nhà máy Cốc hóa Thái Nguyên. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của công trình là thiết lập quy trình xử lý nước thải luyện cốc đạt quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 52:2017/BTNMT Cột B với các chỉ số mục tiêu: hiệu suất khử phenol đạt trên 99%, đưa phenol về dưới 0,5 mg/L, COD dưới 150 mg/L và NH4+-N dưới 10 mg/L, mở ra giải pháp tuần hoàn nước khép kín 100% cho nhà máy sản xuất thép.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu ứng dụng hai nền tảng lý thuyết cốt lõi trong công nghệ xử lý nước thải công nghiệp ô nhiễm hữu cơ bậc cao:

Thứ nhất là lý thuyết nội điện phân vi pin điện hóa (Internal Microelectrolysis). Khi hai vật liệu có thế điện cực chênh lệch nhau như Fe-C hoặc Fe-Cu cùng tiếp xúc trong môi trường nước thải có tính axit nhẹ (pH từ 3 đến 4), hàng triệu cặp vi pin cục bộ được hình thành với hiệu điện thế khoảng 1,2 V. Dòng vi điện cực cường độ microampe sinh ra các tác nhân khử mạnh như nguyên tử hydro hoạt tính [H] và giải phóng ion Fe2+. Các gốc này bẻ gãy cấu trúc vòng benzen bền vững của phenol và các hợp chất hydrocarbon thơm đa vòng (PAHs), chuyển hóa chất độc khó phân hủy thành các hợp chất mạch thẳng dễ phân hủy sinh học, từ đó nâng cao tỷ số BOD5/COD.

Thứ hai là lý thuyết xử lý sinh học tích hợp màng vi sinh chuyển động (A2O-MBBR). Hệ thống kết hợp ba vùng chức năng nối tiếp: vùng kỵ khí (Anaerobic) thực hiện quá trình axit hóa và thủy phân chất hữu cơ phức tạp; vùng thiếu khí (Anoxic) thực hiện quá trình phản nitrat hóa chuyển hóa nitrat (NO3-) thành khí nitơ tự do; vùng hiếu khí (Oxic) thực hiện quá trình nitrat hóa amoni (NH4+) và khoáng hóa hoàn toàn các chất hữu cơ còn lại thành CO2 và H2O. Việc bổ sung giá thể Biochip chuyển động với diện tích bề mặt tiếp xúc lớn từ 400 đến 1200 m2/m3 giúp hình thành lớp màng sinh học dày đặc. Cấu trúc màng vi sinh đa tầng (ngoài hiếu khí, giữa thiếu khí, trong kỵ khí) tạo điều kiện cho các chủng vi khuẩn chuyên biệt phát triển mà không bị trôi rửa theo dòng nước.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu và lấy mẫu: Mẫu nước thải thực tế được thu thập trực tiếp tại Nhà máy Cốc hóa - Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên vào lúc 9 giờ sáng ngày 06 tháng 12 năm 2019. Quy trình lấy mẫu, bảo quản và vận chuyển tuân thủ nghiêm ngặt theo các tiêu chuẩn quốc gia TCVN 5999:1995 và TCVN 6663-3:2016 nhằm bảo toàn nguyên trạng các chỉ tiêu hóa lý. Cỡ mẫu thực nghiệm trong phòng thí nghiệm được chuẩn hóa ở các mẻ 100 mL cho giai đoạn khảo sát vật liệu vi điện phân và hệ pilot liên tục thể tích 9 lít (3 lít mỗi bể) cho hệ sinh học A2O-MBBR.

Phương pháp phân tích hóa học và vi sinh: Nồng độ phenol được định lượng chính xác bằng phương pháp sắc ký lỏng hiệu năng cao (HPLC) trên hệ thống Waters Acquity Arc trang bị detector PDA, sử dụng cột C18 Inertsil ODS (kích thước hạt 5 micromet, kích thước cột 250 x 3 mm) tại bước sóng hấp thụ 272 nm, pha động gồm đệm photphat và axetonitril theo tỷ lệ thể tích 30:70 với tốc độ dòng 1,0 mL/phút. Các thông số ô nhiễm khác được phân tích theo phương pháp chuẩn quốc tế và Việt Nam: TSS theo SMEWW 2540D:2017, COD theo SMEWW 5220C, BOD5 theo SMEWW 2540B:2017, tổng nitơ theo TCVN 6638:2000, amoni theo TCVN 5988:1995, tổng photpho theo SMEWW 4500-P.B&E:2017 và oxy hòa tan (DO) bằng phương pháp chuẩn độ Winkler. Vi sinh vật được phân lập và định danh hình thái trên môi trường thạch LB.

Timeline và điều kiện vận hành: Quá trình nuôi cấy, thuần hóa bùn hoạt tính và phát triển màng sinh học biochip kéo dài từ 30 đến 45 ngày. Hệ thống A2O-MBBR vận hành với tổng thời gian lưu thủy lực (HRT) là 34 giờ, phân bổ cụ thể: bể kỵ khí lưu 24 giờ (MLSS từ 1800 đến 2000 mg/L), bể thiếu khí lưu 6 giờ (MLSS từ 2000 đến 2300 mg/L, DO từ 1 đến 2 mg/L) và bể hiếu khí lưu 4 giờ (MLSS từ 4000 đến 4500 mg/L, DO duy trì từ 5 đến 8 mg/L).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực nghiệm tiền xử lý bằng vật liệu nội điện phân: Vật liệu Fe-C và Fe-Cu cho thấy khả năng phân hủy phenol và khử màu vượt trội trong điều kiện phòng thí nghiệm. Với mẫu nước thải điều chỉnh về pH = 4 sử dụng 2,5 gam Fe-C trên 100 mL nước thải và rung siêu âm 10 phút, lắc 12 giờ ở tốc độ 200 vòng/phút, nồng độ phenol giảm mạnh rõ rệt trên sắc ký đồ HPLC. Tương tự, hệ Fe-Cu với liều lượng 1,0 gam trên 100 mL ở pH = 3 cũng mang lại hiệu quả phân hủy phenol đáng kể, tuy nhiên vật liệu Fe-C cho thấy độ ổn định cao hơn và ít làm phát sinh ion kim loại thứ cấp vào nguồn nước.

Hiệu quả xử lý của hệ thống tích hợp Fe-C kết hợp A2O-MBBR: Sự kết hợp giữa công đoạn nội điện phân Fe-C và công nghệ màng sinh học A2O-MBBR tạo ra bước đột phá toàn diện trong việc làm sạch nước thải cốc hóa so với việc chỉ xử lý sinh học đơn thuần:

Hiệu suất loại bỏ Phenol: Đạt trên 99,5%. Nồng độ phenol ban đầu từ mức cực kỳ độc hại khoảng 900 mg/L đã giảm xuống dưới 0,5 mg/L sau toàn bộ chu trình, đạt hoàn toàn giới hạn cho phép theo QCVN 52:2017/BTNMT Cột B.

Hiệu suất loại bỏ COD và BOD5: Chỉ số COD đầu vào của nước thải sau pha loãng và điều hòa ở mức 2359 mg/L đã được xử lý qua hệ kết hợp xuống còn dưới 150 mg/L, đạt hiệu suất loại bỏ trên 93,6%. Tương tự, BOD5 giảm từ hàng trăm mg/L xuống dưới mức 50 mg/L.

Hiệu suất loại bỏ Tổng Nitơ và Amoni: Nhờ bổ sung các chủng vi sinh chuyên biệt nitrat hóa và phản nitrat hóa vào giá thể MBBR, hiệu suất chuyển hóa NH4+-N đạt trên 92%, đưa nồng độ amoni từ mức ô nhiễm nghiêm trọng xuống dưới 10 mg/L. Tổng nitơ giảm sâu về dưới 60 mg/L.

Chỉ số Tổng Photpho và TSS: Hàm lượng tổng P được kiểm soát tốt dưới 6,0 mg/L và tổng chất rắn lơ lửng TSS sau bể lắng giảm xuống dưới 100 mg/L.

Thảo luận kết quả

Cơ chế phân hủy hiệp đồng: Quá trình nội điện phân Fe-C đóng vai trò then chốt như một bước mở vòng các chất hữu cơ nhân thơm độc hại. Dưới tác dụng của các phản ứng oxy hóa khử trên bề mặt hạt Fe-C, phenol bị chuyển hóa thành các axit hữu cơ béo mạch ngắn. Dữ liệu thực nghiệm có thể được trực quan hóa qua biểu đồ đường cong phân hủy HPLC theo thời gian, cho thấy diện tích pic phenol đặc trưng tại thời gian lưu xác định suy giảm liên tục và biến mất hoàn toàn sau giai đoạn xử lý sinh học.

Động học màng sinh học MBBR: Trong các bể sinh học, giá thể Biochip sau 30 ngày vận hành được bao phủ bởi một lớp màng vi sinh màu nâu vàng đồng nhất. Việc duy trì nồng độ bùn hoạt tính cao (MLSS từ 4000 đến 4500 mg/L trong bể hiếu khí) giúp hệ thống chịu được tải trọng hữu cơ lớn mà không xảy ra hiện tượng sốc tải vi sinh. So sánh với các công bố quốc tế, hiệu suất xử lý phenol 99,5% của hệ thống nghiên cứu tương đương với kết quả của các nhà khoa học trên thế giới nhưng thời gian lưu thủy lực tổng thể được tối ưu ngắn hơn, chỉ mất 34 giờ thay vì từ 72 đến 120 giờ như công nghệ bùn hoạt tính hiếu khí cổ điển. Bảng tổng hợp các chỉ tiêu ô nhiễm chứng minh toàn bộ 8 thông số quan trắc chính sau xử lý đều nằm trong ngưỡng quy định của QCVN 52:2017/BTNMT Cột B.

Đề xuất và khuyến nghị

Để chuyển giao kết quả nghiên cứu vào thực tế sản xuất, bốn giải pháp kỹ thuật và quản lý được đề xuất cụ thể như sau:

Thứ nhất, đầu tư xây dựng module tiền xử lý nội điện phân Fe-C công nghiệp đặt trước công đoạn sinh học. Ban Kỹ thuật và Môi trường của nhà máy cần chủ trì thiết kế tháp phản ứng vi điện phân Fe-C với tải trọng vật liệu tương đương 25 kg/m3 nước thải, vận hành ở pH từ 4,0 đến 4,5 nhằm mục tiêu cắt giảm ít nhất 60% độc tính phenol thô trước khi dẫn vào trạm sinh học, triển khai hoàn thành trong lộ trình 6 đến 12 tháng.

Thứ hai, cải tạo và chuyển đổi bể Aeroten truyền thống hiện hữu thành hệ thống A2O-MBBR ba bậc. Đơn vị sản xuất phối hợp cùng các viện nghiên cứu chuyên ngành tiến hành lắp đặt vách ngăn chia vùng kỵ khí, thiếu khí, hiếu khí và thả giá thể Biochip với mật độ 1 kg giá thể trên 1 m3 nước thải. Mục tiêu duy trì nồng độ MLSS hiếu khí trên 4000 mg/L để đảm bảo chỉ số COD đầu ra luôn dưới 150 mg/L và amoni dưới 10 mg/L, hoàn thành nghiệm thu kỹ thuật trong vòng 12 đến 18 tháng.

Thứ ba, thiết lập hệ thống kiểm soát tự động nồng độ DO và chế độ hồi lưu nitrat. Bộ phận vận hành trạm xử lý nước thải lắp đặt cảm biến DO online để duy trì ổn định oxy hòa tan từ 5,0 đến 8,0 mg/L tại ngăn hiếu khí và từ 1,0 đến 2,0 mg/L tại ngăn thiếu khí, đồng thời điều khiển bơm hồi lưu bùn và dịch lỏng từ bể hiếu khí về bể thiếu khí với tỷ lệ từ 200% đến 300%, thực hiện hoàn thiện trong thời gian 3 đến 6 tháng.

Thứ tư, xây dựng hệ thống tuần hoàn khép kín tái sử dụng 100% nước thải sau xử lý. Ban Giám đốc nhà máy phê duyệt phương án dẫn toàn bộ lượng nước thải đạt chuẩn khoảng 77 m3 mỗi ngày quay trở lại phục vụ tháp dập than cốc ướt, chấm dứt hoàn toàn nguy cơ xả thải ra môi trường tự nhiên, vừa tiết kiệm chi phí khai thác nước sạch vừa bảo vệ nguồn nước lưu vực sông Cầu, triển khai đồng bộ trong vòng 12 tháng.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và số liệu thực nghiệm của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc cho bốn nhóm đối tượng:

Kỹ sư vận hành và nhà quản lý môi trường tại các doanh nghiệp luyện kim thép: Cán bộ kỹ thuật tại các nhà máy luyện than cốc (như Gang thép Thái Nguyên, Hòa Phát, Formosa) có thể sử dụng luận văn làm tài liệu hướng dẫn trực tiếp để khắc phục tình trạng sốc tải vi sinh, giải quyết triệt để sự cố ô nhiễm amoni và phenol vượt ngưỡng trong hệ thống xử lý nước thải hiện hữu.

Các đơn vị tư vấn và nhà thầu thiết kế công trình xử lý nước thải công nghiệp: Các kỹ sư công nghệ môi trường có thể khai thác đầy đủ các thông số thiết kế thực nghiệm như thời gian lưu thủy lực HRT 34 giờ, tỷ lệ nạp giá thể MBBR, liều lượng vật liệu Fe-C và chế độ cấp khí DO để lập thuyết minh kỹ thuật và hồ sơ thiết kế thi công trạm xử lý cho các dòng thải độc hại.

Học viên cao học, nghiên cứu sinh và giảng viên ngành Hóa phân tích, Công nghệ Môi trường: Luận văn cung cấp quy trình phân tích sắc ký lỏng hiệu năng cao HPLC xác định vi lượng phenol, phương pháp nuôi cấy thuần hóa bùn hoạt tính kỵ khí - thiếu khí - hiếu khí, cùng dữ liệu tham khảo giá trị cho các công trình nghiên cứu mở rộng về công nghệ vi điện phân.

Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên và môi trường: Các cán bộ thanh tra, chi cục bảo vệ môi trường có cơ sở khoa học và thực tiễn để đánh giá báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM), cấp giấy phép xả thải và giám sát năng lực xử lý nước thải đặc thù của các cơ sở sản xuất than cốc trên toàn quốc.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao nước thải luyện cốc lại khó xử lý bằng phương pháp sinh học truyền thống? Nước thải luyện cốc chứa hàm lượng phenol rất cao từ 889 đến 943 mg/L cùng nồng độ amoni vượt 900 mg/L. Các hợp chất hữu cơ vòng thơm này có độc tính cực lớn, gây ức chế hô hấp và phá hủy màng tế bào của vi sinh vật trong bùn hoạt tính thông thường, khiến hệ thống Aeroten cổ điển mất hoàn toàn hoạt lực phân hủy.

Cơ chế phân hủy chất ô nhiễm của phương pháp nội điện phân Fe-C là gì? Khi hạt sắt và than hoạt tính tiếp xúc trong nước thải, các cặp vi pin điện hóa được kích hoạt tạo ra dòng điện vi mô khoảng 1,2 V. Quá trình này sinh ra các gốc hydro hoạt tính [H] và ion Fe2+, nhanh chóng bẻ gãy liên kết vòng benzen của phenol, chuyển hóa chất độc bền vững thành các chuỗi hữu cơ đơn giản dễ bị vi sinh vật tiêu thụ.

Giá thể Biochip trong công nghệ MBBR mang lại ưu điểm vượt trội gì? Giá thể Biochip cung cấp diện tích bề mặt tiếp xúc sinh học lên tới 1200 m2/m3, giúp giữ lại lượng sinh khối vi sinh rất lớn với MLSS đạt từ 4000 đến 4500 mg/L. Màng vi sinh dính bám tạo ra đồng thời môi trường kỵ khí, thiếu khí và hiếu khí cục bộ, nâng cao vượt bậc tốc độ nitrat hóa và phản nitrat hóa.

Hệ thống A2O-MBBR trong nghiên cứu vận hành với thời gian lưu thủy lực (HRT) như thế nào? Hệ thống vận hành liên tục với tổng thời gian lưu là 34 giờ. Trong đó, bể kỵ khí chiếm 24 giờ để hoàn tất quá trình axit hóa và phân cắt mạch hữu cơ, bể thiếu khí chiếm 6 giờ để thực hiện phản nitrat hóa khử tổng nitơ, và bể hiếu khí chiếm 4 giờ để khoáng hóa COD và oxy hóa amoni.

Chất lượng nước thải sau xử lý có đáp ứng tiêu chuẩn xả thải hiện hành không? Nước thải sau khi qua chu trình tích hợp Fe-C và A2O-MBBR đạt đầy đủ các thông số của QCVN 52:2017/BTNMT Cột B. Cụ thể, phenol đạt dưới 0,5 mg/L, COD dưới 150 mg/L, BOD5 dưới 50 mg/L và NH4+-N dưới 10 mg/L, hoàn toàn đủ điều kiện tái sử dụng tuần hoàn cho hoạt động dập cốc của nhà máy.

Kết luận

Luận văn đã giải quyết triệt để thách thức xử lý dòng nước thải độc hại bậc cao thông qua các đóng góp khoa học nổi bật:

  • Khẳng định tính ưu việt của phương pháp tiền xử lý nội điện phân Fe-C ở pH = 4 trong việc cắt mạch vòng benzen và giảm nhanh nồng độ phenol thô từ trên 900 mg/L.
  • Thiết lập thành công mô hình sinh học cải tiến A2O-MBBR bổ sung giá thể Biochip, duy trì mật độ sinh khối hiếu khí cao từ 4000 đến 4500 mg/L và thời gian lưu tối ưu 34 giờ.
  • Đạt hiệu suất loại bỏ phenol trên 99,5%, COD trên 93,6% và NH4+-N trên 92%, đưa toàn bộ các chỉ tiêu nước thải sau xử lý đạt chuẩn QCVN 52:2017/BTNMT Cột B.
  • Đề xuất quy trình công nghệ tích hợp khả thi cho phép tái sử dụng tuần hoàn 100% lượng nước thải khoảng 77 m3 mỗi ngày phục vụ làm nguội than cốc tại Công ty Cổ phần Gang thép Thái Nguyên.
  • Mở ra lộ trình ứng dụng công nghệ vi pin điện hóa kết hợp màng sinh học quy mô công nghiệp trong giai đoạn 6 đến 12 tháng tới cho các nhà máy luyện kim trên toàn quốc.

Quý độc giả, kỹ sư công nghệ và nhà nghiên cứu quan tâm đến quy trình thực nghiệm, phương pháp sắc ký HPLC chi tiết hoặc muốn hợp tác chuyển giao công nghệ xử lý nước thải công nghiệp luyện kim có thể liên hệ bộ môn Hóa phân tích, Khoa Hóa học - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên để tiếp cận toàn văn tài liệu và trao đổi chuyên môn sâu hơn.