MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Trong bat kỳ hình thức tổ chức bộ máy nhà nước nào, dù theo chế độ phân quyền hay tập quyền, thì tư pháp vẫn được coi là một bộ phận cấu thành quyên lực công, thé hiện quyền uy của Nhà nước đối với xã hội cũng như năng lực bảo vệ công lý.Lênin đã từng khang định: Một nên tư pháp tồi, xã hội sẽ phải trả một giá đắt. Luận điểm này cho thấy, công tác tư pháp luôn giữ vai trò quan trọng trong các phương diện hoạt động của Nhà nước.Trong Thư gửi Hội nghị Tư pháp toàn quốc lần thứ IV vào tháng 2 năm 1948, Chủ tịch Hồ Chí Minh khang định: “7 pháp là một cơ quan trọng yếu của chính quyên góp phan mình thực hiện chế độ pháp tri, giữ vững và bảo vệ quyên lợi của nhân dân, bảo vệ chế độ dân chủ của ta. Đông thời, ngăn ngừa, trừng trị những kẻ âm mưu, phá hoại chế độ, phá hoại lợi ich của nhân dân ”°.
Công tác tư pháp nói chung và xét xử nói riêng trong tiễn trình cách mạng Việt Nam đã góp phần quan trọng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Trong công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm đến công tác cán bộ, trong đó chú trọng đến công tác xây dựng đội ngũ Tham phán trong sạch, vững mạnh. Đội ngũ Thâm phán đã có bước phát triển mới về chất lượng và số lượng, góp phần quan trọng vào sự nghiệp đổi mới, song vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu của đời sống xã hội. Nghị quyết 49- NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương (khóa IX) về “Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020” nhận định “Đội ngũ can bộ tu pháp, bổ trợ tư pháp còn thiếu; trình độ nghiệp vụ và bản lĩnh chính trị của một 0) Bộ Tư pháp-Viện khoa học pháp lý (1995), Một số bài nói và bài viết của các lãnh tụ Dang và Nhà nước ta về Ngành tu pháp, Dac san Thông tin khoa học pháp ly, Hà Nội, tr.
bộ phận cán bộ còn yếu, thậm chí một số cán bộ sa sút về phẩm chat đạo đức va trách nhiệm nghê nghiệp ”“). Từ đó dẫn tới một số tình trạng oan, sai làm ảnh hưởng đến quyên và lợi ích hợp pháp của công dân, nhiều vấn đề liên quan đến xét xử các vụ án có yếu tố nước ngoài, sỡ hữu trí tuệ, thương mai quốc tế, các loại tội phạm hình sự xuyên quốc gia còn bất cập, khả năng sử dụng ngoại ngữ, tin học vào nghiên cứu luật pháp quốc tế phục vụ cho hoạt động xét xử đối với đội ngũ Tham phán còn hạn chế. Đó là chưa kế yêu cầu xây dựng đạo đức nghề nghiệp trong lĩnh vực xét xử cũng rất đặc thù, ảnh hưởng rất lớn đến uy tín, đạo đức của Dang cầm quyền. Thực tế cho thấy, nêu như tham nhũng trong các lĩnh vực lập pháp, hành pháp gây nhức nhối trong xã hội thì tham những trong lĩnh vực tư pháp thường bị đánh giá thiếu đạo đức hơn nhiều lần, do nó làm thay đôi cán cân công lý, đụng chạm đến những quyên tư pháp của con người.
Công cuộc đôi mới càng di vào chiều sâu, việc xây dựng được một đội ngũ Tham phan co trình độ, có năng lực toàn diện và pham chất tốt dé giải quyết tốt những yêu cầu xét xử do công cuộc cải cách tư pháp trong thời kỳ hội nhập quốc tế là một yêu cau bức thiết. Đến nay, vẫn còn thiếu những nghiên cứu khoa học làm cơ sở cho những giải pháp thực sự rõ ràng, đồng bộ, hiệu quả để thực hiện cải cách tư pháp. Đặc biệt với cơ chế quản lý cán bộ theo các ngành hiện nay, bảo đảm đồng bộ hóa về chất lượng Tham phán là điều rất khó thực hiện. Trong khi đó, nâng cao chất lượng xét xử, trước hết và đột phá phải bắt đầu từ chất lượng Tham phán.
Muốn thực hiện đạt kết quả tốt nhất, rat can phải nghiên cứu có hệ thống quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Tham phán dé có một cách nhìn toàn diện về thành công, hạn chế, đề xuất giải pháp có thể vận dụng vào thực tiễn đáp ứng yêu cau cải cách tư pháp hiện nay. Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu Đảng lãnh đạo xây dựng đội ngũ Thâm phán có ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng trong quá trình nâng cao chất lượng hoạt động xét xử, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp. Chính vì vậy, tác giả chọn đề tài “Dang lãnh đạo xây dựng đội ngũ Tham phán đáp ứng yêu cau cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay” làm đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở. ) Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Nghi quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/06/2005 về “Chiến lược cải cách tu pháp đến năm 2020”, Hà Nội.
Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 2. Nghiên cứu trong nước 2. Nghiên cứu chung về xây dựng đội ngũ Tham phan - Công trình nghiên cứu về công tác đào tao, boi dưỡng đội ngũ Tham phán. Tác giả Dao Xuân Tién trong bài viết “Đào tao thẩm phán”, Tạp chí Nghiên cứu Lập Pháp, số 10, 2002 đã khái quát năng lực, trình độ chuyên môn của các thâm phán.
Tác giả nêu lên thực trạng công tác đào tạo thâm phán trước năm 2002 còn chồng chéo, nhiều cơ sở đào tạo do nhiều cơ quan quản lý khác nhau; đưa ra hướng đôi mới như xây dựng chương trình, đào tạo lại đội ngũ thâm phán về chuyên môn nghiệp vụ và bổ sung những kiến thức ngoại ngữ, tin học; kiến thức về sở hữu trí tuệ: tập trung các cơ sở đào tạo thành một mối. Phạm Mạnh Hùng với bài viết “Về vấn dé đào tạo nguồn để bồ nhiệm các chức danh tư pháp ở Việt Nam”, Tạp chí Kiểm sát, sô 22, 2011 đã phân tích tính đặc thù của đào tạo nguồn để bô nhiệm đối với các chức danh tư pháp như thâm phán, kiểm sát viên; có so sánh với công tác dao tạo của một số nước; đặt ra yêu cầu chuyên môn hoá của các ngành như đào tạo Thâm phán cần giao cho ngành toà án đảm nhiệm và Kiểm sát viên do ngành kiểm sát thực hiện. Phan Chí Hiếu trong dé tài nghiên cứu khoa học cấp bộ nghiệm thu năm 2012: “Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng chiến lược đào tạo, bôi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020” đã nêu lên cơ sở lý luận xây dựng Chiến lược đào tạo, bồi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020. Trên cơ sở đó, đề tài khái quát thực trạng đội ngũ cán bộ có chức danh tư pháp và hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ có chức danh tư pháp, đặc biệt nhấn mạnh đến thực trạng đội ngũ Tham phan con thiếu về số lượng; cơ cầu đội ngũ thầm phán chưa đảm bảo; chất lượng đội ngũ thấm phán còn hạn chế về trình độ chuyên môn, trình độ chính tri, trình độ ngoại ngữ tin học; đạo đức thẩm phán.
Từ đó, dé tài đưa ra những giải pháp nhằm xây dựng, trình phê duyệt và tô chức thực thi Chiến lược đào tạo, bôi dưỡng các chức danh tư pháp đến năm 2020, trong đó đội ngũ Thâm phán là một bộ phận. Một SỐ dé tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở của Học viện Tư pháp năm 2000 với đề tài: “Những biện pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo nguồn thẩm phán ”; năm 2006: “Đào tao các chức danh tư pháp phục vụ công cuộc cải cách tu pháp ”. 3 Toà án nhân dân tối cao năm 2004 với đề dé tài: “Đào tạo thẩm phán của Tòa án nhân dân toi cao ”. Nội dung của các đề tài này, đưới nhiều góc độ, cách tiếp cận khác nhau, trên mức độ ít nhiều có đề cập đến việc thực hiện chủ trương của Đảng về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của từng ngành và chủ yếu đi sâu khái quát thực trạng và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cán bộ tư pháp nói chung và đổi mới nội dung chương trình, phương pháp đào tạo pháp luật và kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ Thâm phán.
Song, do quy mô và tính chat là dé tài cấp cơ sở, hoặc do phạm vi nghiên cứu riêng của từng ngành, nên các đề tài không thê triên khai một cách toàn diện và sâu sac. - Công trình nghiên cứu về công tác tuyển chọn, bố nhiệm đội ngũ Tham phán. Trường Đại học Luật Hà Nội trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ năm 2003: “Điểu tra cơ bản đánh giá thực trạng đào tạo, sử dung cán bộ pháp lý đối với sự phát triển của đất nước thé kỷ XX” đã tập trung điều tra việc sử dụng cử nhân luật sau khi tốt nghiệp đại học, trong đó ngành luật là một lĩnh vực lớn. Đề tài tập trung khảo sát, đánh giá tình hình sử dụng cán bộ pháp lý sau khi tốt nghiệp đại học, không nghiên cứu chuyên sâu sự lãnh đạo của Đảng về xây dựng đội ngũ Thâm phán.
Nguyễn Văn Huyên trong đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ nghiệm thu năm 2010: “Xáy dựng cơ chế thi tuyển tư pháp quốc gia đáp ứng yêu cẩu cải cách Tu pháp ” đã làm rõ cơ chê thi tuyên tư pháp quốc gia, lợi thế cũng như vai trò của thi tuyển tư pháp quốc gia trong mỗi quan hệ với các yêu cầu mà Đảng và Nhà nước ta đặt ra trong bối cảnh cải cách tư pháp và đôi mới giáo dục đại học hiện nay; tìm hiểu kinh nghiệm nước ngoài về thi tuyển đào tạo các chức danh tư pháp, Tham phan, trén co so tong kết, đánh giá khả năng áp dụng vào mô hình tuyển sinh đào tạo cán bộ tư pháp và Thảm phán ở Việt Nam; tổng kết một cách toàn diện về thực trạng công tác tuyên sinh dé đào tạo các chức danh tư pháp, Thâm phán tại Học viện Tư pháp từ trước đến nay. Tác giả làm rõ cơ sở thực tiễn và sự cần thiết phải xây dựng kỳ thi tuyển tư pháp quốc gia; xây dựng mô hình thi tuyên tư pháp quốc gia, trong đó xác định rõ đối tượng dự thi, nội dung thi tuyên, hình thức thi tuyển, Hội đồng thi tuyên tư pháp quốc gia; làm rõ các điều kiện đảm bảo cho việc thực thi mô hình thi tuyên này trên thực tế. - Nghiên cứu về xây dựng phẩm chất đạo đức đội ngũ Thẩm phán.