Tổng quan nghiên cứu

Khu vực đồng bằng sông Hồng – Đáy là trung tâm kinh tế, nông nghiệp trọng điểm của miền Bắc với diện tích đất tự nhiên khoảng 17.000 km2, sở hữu 799.103 ha đất canh tác và nuôi dưỡng gần 10,9 triệu dân số nông nghiệp. Lưu vực sông Hồng – Thái Bình có tổng diện tích liên quốc gia lên tới 169.000 km2, trong đó phần lãnh thổ Việt Nam chiếm 86.680 km2 (tương đương 51,3% diện tích toàn lưu vực). Tuy nhiên, vào mùa cạn kéo dài từ tháng 11 đến tháng 5 năm sau, nguồn nước ngọt tự nhiên từ thượng nguồn suy giảm mạnh, lượng dòng chảy 3 tháng kiệt nhất chỉ chiếm chưa đầy 10% tổng lượng dòng chảy cả năm. Sự thiếu hụt này kết hợp với chế độ nhật triều biên độ lớn của vịnh Bắc Bộ (dao động từ 3,5 m đến 4,0 m) đã thúc đẩy quá trình xâm nhập mặn tiến sâu vào nội đồng từ 14 km đến 51 km dọc theo các trục sông chính.

Mục tiêu cốt lõi của nghiên cứu là nhận diện quy luật biến đổi không gian - thời gian của độ mặn, phân tích các nhân tố động lực học chi phối và thiết lập phương án dự báo xâm nhập mặn nghiệp vụ cho 4 cửa sông huyết mạch gồm Ba Lạt (sông Hồng), Trà Lý (sông Trà Lý), Lạch Giang (sông Ninh Cơ) và cửa Đáy (sông Đáy). Nghiên cứu kế thừa chuỗi dữ liệu thủy văn kéo dài từ năm 1990 đến năm 2019 kết hợp mô hình toán thủy lực động lực học một chiều MIKE 11. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc bảo vệ nguồn nước tưới cho 620.000 ha lúa chiêm xuân và 730.000 ha lúa mùa, đồng thời cung cấp luận cứ khoa học để vận hành 29 hệ thống thủy nông và 900 hồ chứa thủy lợi trên toàn vùng.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng hai lý thuyết thủy động lực học dòng hở và động học lan truyền chất:

Thứ nhất, hệ phương trình Saint-Venant một chiều mô tả dòng chảy không ổn định trong lòng dẫn hở, bao gồm phương trình liên tục biểu thị sự bảo toàn khối lượng và phương trình động lượng thể hiện sự cân bằng giữa gia tốc dòng chảy, độ dốc mặt nước và lực ma sát đáy:

$$\frac{\partial Q}{\partial x} + \frac{\partial A}{\partial t} = q$$

$$\frac{\partial Q}{\partial t} + \frac{\partial}{\partial x}\left(\frac{\alpha Q^2}{A}\right) + gA\frac{\partial H}{\partial x} + \frac{gQ|Q|}{C^2 A R} = 0$$

Trong đó, $Q$ là lưu lượng dòng chảy ($m^3/s$), $A$ là diện tích mặt cắt ướt ($m^2$), $H$ là mực nước ($m$), $q$ là lưu lượng nhập lưu bên ($m^2/s$), $C$ là hệ số Chezy, $R$ là bán kính thủy lực ($m$), $\alpha$ là hệ số phân bố vận tốc Manning và $g$ là gia tốc trọng trường ($9,81 m/s^2$).

Thứ hai, phương trình chuyển tải – phân tán một chiều (Advection – Dispersion) mô phỏng quá trình truyền mặn dưới tác động đồng thời của vận tốc dòng chảy đối lưu và hiện tượng khuếch tán rối:

$$\frac{\partial (AC)}{\partial t} + \frac{\partial (QC)}{\partial x} - \frac{\partial}{\partial x}\left(A D \frac{\partial C}{\partial x}\right) = -A K C + C_q q$$

Trong đó, $C$ là nồng độ mặn ($\text{‰}$ hoặc $kg/m^3$), $D$ là hệ số phân tán dọc ($m^2/s$), $K$ là hệ số phân hủy (bằng 0 đối với bài toán truyền mặn bảo toàn), và $C_q$ là nồng độ mặn của nguồn gia nhập bên.

Các khái niệm chuyên ngành then chốt bao gồm: ranh giới mặn 1‰ và 4‰ (ngưỡng tiêu chuẩn cho cấp nước sinh hoạt và nông nghiệp), độ triết giảm độ mặn ($\Delta S/\Delta x$), hệ số nhám Manning ($n$) và chỉ số hiệu quả mô hình Nash-Sutcliffe (NSE).

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm tập dữ liệu địa hình mặt cắt ngang toàn bộ hệ thống sông Hồng – Đáy được đo đạc trong Chương trình Phòng chống lũ sông Hồng – Thái Bình, chuỗi số liệu mực nước giờ của 20 trạm thủy văn, chuỗi lưu lượng theo cấp mực nước của 3 trạm đầu mối chính (Sơn Tây, Hà Nội, Thượng Cát) và số liệu quan trắc độ mặn tại 10 trạm ven biển trong giai đoạn 1990–2019. Cỡ mẫu hiệu chỉnh chuyên sâu sử dụng dữ liệu đo đạc thực tế theo 3 tầng độ sâu (mặt, giữa, đáy) vào các đợt triều kiệt ngày 14–16/12/2015 và 7–9/3/2016.

Phương pháp chọn mẫu là phương pháp chọn mẫu mục tiêu theo các vị trí xung yếu: 4 vị trí kiểm soát biên triều cửa sông, các trạm ngã ba phân lưu chính và các trạm đo thủy văn đại biểu. Phương pháp phân tích trọng tâm là mô hình hóa số trị bằng phần mềm MIKE 11 (bao gồm mô-đun thủy lực HD và mô-đun truyền mặn AD). Lý do lựa chọn bộ công cụ này là tính ổn định cao của thuật toán sai phân ẩn 6 điểm Abbott-Ionescu, khả năng mô phỏng chính xác mạng lưới sông phân nhánh phức tạp với bước thời gian tính toán linh hoạt $\Delta t = 10$ giây và khoảng cách lưới $\Delta x = 1000 - 2000$ m.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm và mô phỏng trên mô hình MIKE 11 đã xác lập những phát hiện khoa học quan trọng:

Thứ nhất, phạm vi xâm nhập mặn phân hóa rõ rệt giữa các nhánh sông. Chiều dài xâm nhập của ranh giới mặn 1‰ tính trung bình nhiều năm lấn sâu nhất trên sông Trà Lý đạt tới 51 km, tiếp theo là sông Đáy 41 km, sông Ninh Cơ 36 km và dòng chính sông Hồng từ 14 km đến 33 km.

Thứ hai, tốc độ triết giảm độ mặn theo chiều dọc sông diễn ra với biên độ khác biệt. Sông Ninh Cơ có tốc độ triết giảm nhanh nhất đạt 0,48‰/km (trong phạm vi 0–12 km cách biển nồng độ đạt đỉnh 29‰, từ 12–24 km độ mặn giảm mạnh 4‰/km và cách biển trên 24 km độ mặn chỉ còn dưới 1‰). Sông Trà Lý có độ triết giảm trung bình 0,42‰/km (đoạn 6–24 km giảm trung bình 2‰/km). Sông Đáy ghi nhận nêm mặn rất dốc từ khoảng cách 6 km đến 20 km tính từ biển với độ triết giảm đạt khoảng 2‰/km.

Thứ ba, lưu lượng thượng nguồn tại trạm Sơn Tây đóng vai trò kiểm soát trực tiếp quá trình đẩy mặn. Khi phân cấp lưu lượng mùa kiệt Sơn Tây thành 5 cấp từ Cấp I (900 $m^3/s$) đến Cấp V (1700 $m^3/s$), kết quả tính toán cho thấy ở mức lưu lượng 900 $m^3/s$, lưỡi mặn 1‰ lấn sâu thêm từ 6 km đến 12 km so với cấp lưu lượng 1700 $m^3/s$. Khi mực nước sông Hồng tại Hà Nội được duy trì từ 2,50 m trở lên, các công trình thủy nông ven biển có thể lấy nước ngọt bình thường.

Thứ tư, bộ thông số mô hình sau khi hiệu chỉnh đạt độ tin cậy cao. Hệ số nhám lòng dẫn dao động từ 0,017 (sông Đào), 0,020–0,029 (sông Hồng) đến 0,030 (sông Đuống). Chỉ số hiệu quả Nash-Sutcliffe đạt từ 0,85 đến 0,975 cho dòng chảy và mực nước; sai số đỉnh lưu lượng kiểm định dưới 11,2%; thời gian xuất hiện đỉnh mặn tính toán chỉ lệch so với thực tế từ 1 đến 2 giờ.

Thảo luận kết quả

Diễn biến xâm nhập mặn tại vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ là kết quả của sự tương tác phi tuyến giữa động lực triều vịnh Bắc Bộ và lưu lượng nước ngọt thượng lưu. Dữ liệu nghiên cứu có thể được biểu diễn trực quan thông qua đồ thị quan hệ mực nước – độ mặn ($H \sim S$) dạng vòng elip thuận chiều kim đồng hồ, minh chứng cho sự đồng pha chặt chẽ: đỉnh mặn xuất hiện sau đỉnh triều khoảng 1 giờ và chân mặn xuất hiện trùng khớp với thời điểm chân triều.

So sánh với giai đoạn trước khi xây dựng hồ chứa Hòa Bình, quy luật phân bố mặn trong năm đã có sự chuyển dịch căn bản. Trước đây, độ mặn cực đại thường xuất hiện vào các tháng kiệt sâu cuối mùa khô (tháng 3 và tháng 4). Sau khi hồ Hòa Bình đi vào vận hành điều tiết, độ mặn trung bình tháng lớn nhất tại 78% số trạm đo chuyển dịch sớm sang tháng 1 và tháng 2. Nguyên nhân là do các hồ chứa thủy điện tăng cường xả nước phục vụ đổ ải nông nghiệp vào giữa và cuối mùa khô, giúp đẩy mặn ra xa cửa sông trong các tháng 3 và 4.

Tuy nhiên, từ năm 2001 đến nay, hiện tượng hạ thấp đáy sông do biến đổi địa hình và khai thác cát đã khiến mực nước mùa kiệt tại Sơn Tây và Hà Nội hạ thấp kỷ lục (ngày 21/2/2010 mực nước Hà Nội xuống 0,10 m; mực nước nhỏ nhất tại Sơn Tây giai đoạn 2015–2019 xuống mức 1,30 m – 1,79 m so với mức trung bình nhiều năm 4,36 m). Điều này làm suy giảm nghiêm trọng khả năng tự chảy của các cống thủy lợi và tạo điều kiện cho sóng triều mặn truyền sâu hơn vào đất liền.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm chủ động ứng phó và giảm thiểu thiệt hại do xâm nhập mặn, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp trọng tâm:

  1. Điều tiết dòng chảy liên hồ chứa thượng nguồn: Bộ Tài nguyên và Môi trường phối hợp cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam và Bộ Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn xây dựng lịch xả nước đệm từ các hồ chứa Sơn La, Hòa Bình, Thác Bà, Tuyên Quang. Mục tiêu duy trì lưu lượng xả tại Sơn Tây tối thiểu 1500–1700 $m^3/s$ (Cấp IV và V), đảm bảo mực nước trạm thủy văn Hà Nội đạt tối thiểu từ 2,50 m trở lên trong các đợt lấy nước tập trung vụ Đông Xuân (tháng 1 đến tháng 3 hàng năm).

  2. Nâng cấp và hiện đại hóa mạng lưới quan trắc mặn: Tổng cục Khí tượng Thủy văn cần đầu tư bổ sung từ 6 đến 8 trạm đo mặn tự động truyền số liệu liên tục thời gian thực tại các cửa sông Ba Lạt, Lạch Giang, Đáy và Trà Lý trước năm 2027. Triển khai phương pháp đo mặn tự động đa tầng tại các vị trí lấy nước sâu của công trình thủy nông thay vì chỉ đo đơn điểm trên mặt nước.

  3. Vận hành linh hoạt hệ thống công trình thủy nông: Các Công ty Khai thác Công trình Thủy lợi tại các tỉnh Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình cần tranh thủ lấy nước thau chua, trữ ngọt vào hệ thống kênh trục, ao đầm vào thời điểm chân triều hoặc các kỳ triều kém khi độ mặn ngoài sông giảm xuống dưới 1‰. Tận dụng tối đa công suất các trạm bơm dã chiến khi mực nước triều dâng kết hợp xả hồ chứa.

  4. Ứng dụng công nghệ mô hình hóa trong dự báo nghiệp vụ: Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Đồng bằng Bắc Bộ cần tích hợp mô hình MIKE 11 vào quy trình dự báo nghiệp vụ thường nhật. Thực hiện ban hành các bản tin dự báo độ mặn hạn ngắn (1–3 ngày) và hạn vừa (10 ngày) với độ chính xác đạt trên 85% để cung cấp kịp thời cho các cơ quan chỉ đạo sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật cao, phục vụ thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan khí tượng thủy văn và chuyên viên dự báo: Sử dụng trực tiếp quy trình thiết lập biên, sơ đồ mạng sông và bộ thông số nhám, hệ số phân tán đã được kiểm định của mô hình MIKE 11 để vận hành bản tin dự báo xâm nhập mặn hàng ngày.
  • Kỹ sư và nhà quản lý hệ thống thủy lợi: Ứng dụng bảng tính cấp lưu lượng Sơn Tây và cự ly lan truyền mặn để xây dựng quy trình mở cống lấy nước tự chảy an toàn, ngăn ngừa hiện tượng nước mặn xâm nhập vào đồng ruộng.
  • Cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên nước: Các Sở Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Lưu vực sông tham khảo các kịch bản suy giảm dòng chảy mùa kiệt để lập quy hoạch khai thác bền vững tài nguyên nước mặt và kiểm soát hoạt động nạo vét lòng sông.
  • Học viên, giảng viên và nhà nghiên cứu chuyên ngành Thủy văn, Hải dương học: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp kết hợp mô hình số trị thủy lực 1 chiều (MIKE 11 HD-AD) với dữ liệu quan trắc thực địa để giải quyết bài toán môi trường cửa sông.

Câu hỏi thường gặp

1. Mô hình MIKE 11 có ưu thế gì vượt trội trong dự báo xâm nhập mặn tại đồng bằng Bắc Bộ?
Mô hình MIKE 11 sở hữu mô-đun thủy lực HD giải hệ phương trình Saint-Venant phi tuyến và mô-đun AD truyền tải khuếch tán chất với độ ổn định cao. Công cụ này xử lý tối ưu hệ thống sông phân nhánh phức tạp của sông Hồng – Đáy, đạt chỉ số Nash-Sutcliffe trên 0,93 và cho kết quả sai số đỉnh lưu lượng dưới 11,25%.

2. Ranh giới mặn 1‰ xâm nhập sâu nhất vào nhánh sông nào trong khu vực nghiên cứu?
Theo kết quả phân tích dữ liệu quan trắc và mô phỏng, sông Trà Lý có khoảng cách xâm nhập mặn 1‰ sâu nhất lên tới 51 km tính từ cửa biển, tiếp theo là sông Đáy (41 km), sông Ninh Cơ (36 km) và dòng chính sông Hồng (14–33 km).

3. Sự vận hành của hồ chứa Hòa Bình tác động như thế nào đến xâm nhập mặn hạ lưu?
Hồ Hòa Bình bổ sung dòng chảy mùa kiệt giúp đẩy lùi ranh giới mặn ra phía biển. Quá trình xả nước làm thay đổi thời gian xuất hiện độ mặn cực đại: trước khi có hồ, đỉnh mặn tập trung vào tháng 3–4; sau khi có hồ, 78% số trạm ghi nhận đỉnh mặn chuyển dịch sớm sang tháng 1–2.

4. Cần duy trì lưu lượng tại trạm Sơn Tây ở mức nào để đảm bảo an toàn cấp nước ngọt?
Lưu lượng tại trạm thủy văn Sơn Tây cần duy trì tối thiểu từ Cấp IV đến Cấp V (từ 1500 $m^3/s$ đến 1700 $m^3/s$). Mức xả này giúp nâng mực nước sông Hồng tại Hà Nội lên trên 2,50 m, đảm bảo các cống và trạm bơm thủy nông ven biển hoạt động bình thường.

5. Vì sao có sự sai khác giữa độ mặn tính toán theo mô hình và độ mặn thực đo?
Sai số xuất phát từ việc mô hình MIKE 11 tính toán độ mặn trung bình mặt cắt một chiều, trong khi thực tế đo đạc tại một điểm đại biểu trên thủy trực. Ngoài ra, sự biến động lòng dẫn chưa cập nhật liên tục và các hoạt động khai thác nước cục bộ cũng tạo nên độ lệch biên.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng và xác lập quy luật xâm nhập mặn tại vùng ven biển đồng bằng Bắc Bộ với phạm vi ảnh hưởng mặn 1‰ lấn sâu từ 14 km đến 51 km dọc 4 cửa sông chính.
  • Thiết lập thành công sơ đồ mạng sông thủy lực và bộ thông số nhám ($n = 0,017 - 0,033$), hệ số phân tán trên mô hình MIKE 11 với chỉ số tương quan Nash-Sutcliffe đạt từ 0,85 đến 0,975.
  • Định lượng hóa mối quan hệ giữa 5 cấp lưu lượng kiệt tại trạm Sơn Tây (900–1700 $m^3/s$) với mức độ xâm nhập mặn, chỉ rõ ngưỡng mực nước Hà Nội 2,50 m là điều kiện an toàn để lấy nước ngọt.
  • Đánh giá chi tiết tác động điều tiết của hệ thống hồ chứa thượng nguồn làm dịch chuyển thời điểm xuất hiện độ mặn lớn nhất sang các tháng đầu mùa cạn.
  • Cung cấp công cụ mô phỏng số học chuẩn xác, sẵn sàng chuyển giao vào công tác dự báo khí tượng thủy văn nghiệp vụ và quản lý tài nguyên nước.

Trong giai đoạn tiếp theo, các đơn vị quản lý cần tiếp tục cập nhật dữ liệu địa hình lòng dẫn định kỳ và tích hợp mô hình 2 chiều tại các vùng cửa sông mở rộng. Hãy áp dụng ngay các giải pháp mô phỏng số trị để nâng cao năng lực ứng phó thiên tai hạn mặn bền vững.