Chương I. Cơ sở lí luận và thực tiễn liên quan đến đề tài. Đặc điểm về nguồn gốc và cấu tạo của vốn từ chỉ nghề đệt chiếu Long Định - Châu Thành - Tiền Giang. Vốn từ chỉ nghề dệt chiếu Long Định - Chau Thành — “Tiền Giang trên phương diện phản ánh và văn hóa.
CHUONG 1 CO SO Li LUAN VA THY TIEN LIEN QUAN DEN DE TAI 1. Mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân và phương ngữ Ngôn ngữ là công cụ tư duy và giao tiếp của con người. Sự phát triển của ngôn ngữ gắn liền với sự phát triển của xã hội loài người, xã hội không thể tổn tại nếu thiếu ngôn ngữ. Ngôn ngữ hình thành, tích lũy qua nhiều thời kì lịch sử, ngày càng phát triển và hoàn thiện chính là điều kiện cho xã hội phát triển.
Con đường hình thành ngôn ngữ của mỗi dân tộc. luôn gắn liền với sự phát triển của dân tộc. 'Việt Nam có vị trí địa lí với những điều kiện lịch sử đặc biệt: là một quốc gia thuộc khu vực Đông Nam Á, nằm giữa lục địa và hải đảo, giữa văn minh Trung Hoa phương Bắc và văn minh Án Độ phía Nam; là một trong những trung tâm hình thành nền văn minh nông nghiệp trồng lúa nước. Trong nhiều thế kỉ, Việt Nam là nơi hội tụ của nhiều tộc người khác nhau trong các cuộc di cư xuống phía Nam, vì thế, bức tranh ngôn ngữ ở 'Việt Nam khá đa dạng - ngôn ngữ của 54 dân tộc sinh sống trên khắp mọi.
miền của Tổ quốc. Tuy có cội nguồn khác nhau, song ngôn ngữ của các tộc người ở Việt Nam có điểm giống nhau: đều là ngôn ngữ thuộc loại hình. đơn lập, có những đặc điểm căn bản giống nhau về cấu trúc; và dù ở thời kì nào, trên các vùng miền thuộc đất nước Việt Nam, ngôn ngữ thống nhất của người Việt vẫn là tiếng Việt. Như vậy, tiếng Việt là ngôn ngữ quốc gia thống nhất - ngôn ngữ chung của các dân tộc trên đất nước; tiếng Việt là công cụ giao tiếp chính thức của toàn thể các dân tộc ở Việt Nam, trở thành công cụ của tư duy và giao tiếp chung quan trọng, tắt cả các phương.
ngữ tiếng Việt đều không cản trở giao tiếp của người Việt. Người Việt 10 Nam dù sống ở vùng phương ngữ nào trên Tổ quốc mình, đẻ hiểu nhau đều. có thể dùng tiếng Việt để giao tiếp. Tính thống nhất của tiếng Việt nằm.
trong bản chất của ngôn ngữ, nhưng trong biểu hiện, tiếng Việt là ngôn ngữ hết sức đa dạng, sinh động, uyễn chuyền, thay đổi từ vùng này sang vùng khác, từ hoàn cảnh xã hội này sang hoàn cảnh xã hội khác. dạng của ngôn ngữ thể hiện trên nhiều mặt: ở khu vực địa lí dân cư, ở tính phân tầng xã hội - lớp người sử dụng. ở phong cách thể hiện. ở hiệu quả biểu hiện.
Tính đa dạng của tiếng Việt là đa dạng trên cơ sở tính thống nhất, nó không phá vỡ tính thống nhất của tiếng Việt. Với hàng vạn đơn vị từ và ngữ cố định, tiếng Việt trở thành một chỉnh thể gồm nhiều hệ thống có liên quan chặt chẽ với nhau. Các lớp từ vựng khác nhau phản ánh độ phong phú của vốn từ tiếng Việt, đồng thời phản ánh sự thống nhất, sáng tạo của con người Việt trong quá trình sử dụng ngôn ngữ. Tinh da dạng của tiếng Việt có lẽ được biểu hiện rõ nét nhất trên khu vực địa lí - đân cư.
Xét từ phương diện này, sự biểu hiện của tiếng Việt được gọi là tiếng địa phương hay phương ngữ. Phương ngữ vận động trong lòng ngôn ngữ dân tộc Việt, các phương ngữ như là bức tranh cụ thể cho thấy tính phong phú, đa dạng của ngôn ngữ dân tộc. ‘Theo Nguyễn Hoài Nguyên: Quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc diễn ra là sự phản ánh quy luật phân tán và thống nhất của ngôn ngữ. Quy luật chung đó của ngôn ngữ gắn liền với sự phát triển của xã hội mà phương ngữ là một hiện tượng không tách rời quá trình hình thành và thống nhất ngôn ngữ dân tộc.
Do vậy, sự hình thành phương ngữ cũng gắn liền với những điều kiện lịch sử - xã hội của từng quốc gia, trong từng thời kì cụ thể [14. tr7]- Bên cạnh đó, sự phân bố tách biệt về mặt địa lý dân cư là một trong, những nguyên nhân hình thành phương ngữ. Chính sự ngăn cách về không. gian địa lí đã làm cho giao tiếp giữa các vùng trở nên khó khăn, không thường xuyên, không liên tục, vì vay đã tạo ra những théi quen sử dụng ngôn ngữ khác nhau.
Quy luật phát triển, biến đổi của ngôn ngữ là nguyên nhân chính hình thành phương ngữ. Ngoài cái mã chung của ngôn ngữ mà ta gọi là ngôn ngữ toàn dân, thì sự vận động nội tại của ngôn ngữ tạo nên sự khác biệt về cách sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng địa lý đân cư. Trong quá trình sử dụng ngôn ngữ, ở các địa phương có những thay đổi về các mặt: ngữ pháp, cách sử dụng hư từ, các âm vị. và sắc thái địa phương bắt dau xuất hiện.
Có thể địa phương này sử dụng dạng mới của ngôn ngữ, địa phương kia lại duy trì cách dùng cũ, điều này dần dẫn tạo nên sự cách xa nhau trong cách sử dụng ngôn ngữ giữa các vùng, đây là một trong những nguyên nhân tạo nên sự khác nhau, sự đa dạng giữa các vùng ngôn ngữ. Con đường hình thành của phương ngữ do nguyên nhân kinh tế, địa If, lịch sử - xã hội là những nguyên nhân bên ngoài ngôn ngữ. Phương ngữ ra đời còn do kết quả của một sự tác động bên trong, từ cấu trúc ngôn ngữ. đổi và phát triển.
Mặt biến đổi của nó thể hiện rõ nhất trên từng phương ngữ về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp. Vì thế sự tác động bên. trong các cấu trúc hệ thống ngôn ngữ làm cho ngôn ngữ tục biến đổi và biến đổi đó được thể hiện ra ở mặt hành chức, ở hoạt động giao tiếp, điều đó đã làm thay đổi thói quen sử dụng ngôn ngữ, tạo nên sự khác biệt trong ngôn ngữ giữa các vùng, giữa các tầng lớp xã hội. 12 'Nhìn từ phương diện hoạt động giao tiếp, có thể nhận thấy ngôn ngữ.
thay đổi theo từng vùng dân cư sẽ tạo nên thói quen nói năng của một vùng dân cư nào đó. Như vậy, phương ngữ là một biến thể của ngôn ngữ dân. tộc, trên một vùng địa lý dân cư hay một tầng lớp xã hội nào đó. Vì vậy, tập hợp những từ ngữ có ít nhiều khác biệt với những ngôn ngữ toàn dân, trên các phương diện (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp) được người địa phương đó hay một tằng lớp người trong xã hội quen dùng thì gọi là phương ngữ.
Vi như tiếng Việt có các vùng phương ngữ như: phương ngữ Bắc Bộ, phương ngữ Trung Bộ, phương ngữ Nam Bộ và phương ngữ xã hội của các ngành nghề như nghề gốm, nghề mộc, nghề cá, nghề dệt chiếu. Ngôn ngữ toàn dân và biến thẻ phương ngữ vừa có tính thống nhất, vừa có sự khác biệt. Trong đó, tính thống nhất giữ vai trò chủ đạo làm cơ sở tạo nên tính thống nhất của ngôn ngữ quốc gia. Vì vậy, mối quan hệ giữa ngôn ngữ toàn dân với phương ngữ là mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng, giữa cái bất biến và cái biến thể, giữa cái trừu tượng và cái cụ thể.
Vì vậy, nghiên cứu từ nghề nghiệp có thể đóng góp phần cứ liệu cho. việc nghiên cứu lịch sử và vốn từ tiếng Việt. Từ toàn dân và phương ngữ Nói tới ngôn ngữ của một dân tộc hay một phương ngữ thuộc một ngôn ngữ nào đó, một trong những phương diện không thể không nói tới là hệ thống vốn từ. Vốn từ của một ngôn ngữ là một khối thống nhất toàn bộ.
từ, ngữ cỗ định của một ngôn ngữ, được tổ chức theo những quy luật nhất định, nằm trong những mỗi quan hệ hữu cơ với nhau. Có thể thấy rằng, vốn từ của một ngôn ngữ bao chứa trong nó nhiều lớp từ vựng. Điều đó có nghĩa là, nếu vốn từ tiếng Việt là một hệ l3 thống thì trong hệ thống từ vựng tiếng Việt có nhiều tiểu hệ thống, mỗi tiểu hệ thống như vậy cũng được xem là vốn từ nếu xét theo số lượng từ ngữ và mối quan hệ giữa các đơn vị từ vựng đó. Xét về phạm vi sử dụng, theo ranh giới địa lí, ta có vốn từ toàn dân và vốn từ địa phương.
Nếu xét theo tính chất xã hội của người dùng, ta có vốn từ phô thông, vốn từ nghề nghiệp, vốn từ thuật ngữ, biệt ngữ, tiếng lóng. Việc xác định tư cách từ, quy từ về từng loại thì loại của từ chỉ là tương đối. Sở dĩ, nói như vậy bởi khi phân loại, từ đã được trừu tượng hóa, cô lập khỏi những mối quan hệ khác. Hơn nữa, trải qua sử dụng từ có thể thay đổi về chức năng, phong.
cách, thay đi tham vi sử dụng, chuyển hóa từ loại này sang loại khác. 'Vốn từ toàn dân có được là do chúng được xây dựng, bổ sung từ nhiều lớp từ vựng khác nhau. Nói như vậy để thấy nếu xét từ nghề nghiệp theo cách đối lập một cách tuyệt đối (về mặt đồng đại cũng như lịch đại) với các lớp từ khác thì sẽ có nhiều vấn đề khó rạch ròi làm chúng ta băn khoăn. Khi nghiên cứu từ nghề nghiệp trong phương ngữ nói chung, cần phải đối chiếu với vốn từ toàn dân và cả với vốn từ phương ngữ.
Theo tác giả Nguyễn Thị Thắm: Các từ trong phương ngữ là thể của một hình thức từ ngữ toàn. dân tương ứng trên cả hai phương diện ngữ âm và ý nghĩa. Từ địa phương và từ toàn dân, bên cạnh những điểm tương đồng tạo nên liên hệ gắn bó giữa từ hai hệ thống, giữa chúng có sự phân li với những mức độ khác nhau [51, tr801]. “Thường thì sự tương ứng (theo từng cặp) về nghĩa của từ trong phương ngữ nói chung, từ chỉ nghề nói riêng, với vốn từ trong ngôn ngữ toàn dân, ít có sự sánh đôi toàn vẹn; mức độ đồng nhất va phân li về nghĩa 14 giữa ngôn ngữ toàn dân với từ trong phương ngữ cũng khá phức tạp.
Do đó, việc xem xét và nghiên cứu vốn từ chỉ nghề dệt chiếu Long của một phương ngữ là việc khó khăn, bởi từ nghề nghiệp trong phương ngữ không chỉ là biến thể của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể, mà còn có thể là biến thể của từ trong phương ngữ đó.