Tổng quan nghiên cứu

Giai đoạn 1996 - 2001 chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ của kinh tế thủ đô khi tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp đạt bình quân 15,2%/năm, đưa giá trị sản xuất công nghiệp năm 2000 lên mức 17.191,8 tỷ đồng và đóng góp 38% vào tổng sản phẩm nội địa (GDP) của Hà Nội. Mặc dù công nghiệp giữ vai trò đầu tàu kinh tế, tỷ trọng lao động công nghiệp mới chỉ chiếm 14,42% tổng lực lượng lao động đang làm việc thường xuyên (đạt 184.745 người trên tổng số 1.280.237 lao động toàn thành phố). Trong bức tranh đó, lực lượng lao động nữ đóng góp tới 45% tổng số nhân lực ngành công nghiệp với 83.135 người, giữ vai trò chủ lực trong các ngành kinh tế mũi nhọn.

Vấn đề cốt lõi đặt ra là sự bất cân xứng giữa quy mô đóng góp kinh tế và chất lượng việc làm của lao động nữ. Tiến trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước và sức ép từ kinh tế thị trường đã đẩy 85,14% lao động nữ vào nhóm dôi dư trong tổng số 6.413 lao động mất việc làm tính đến tháng 9/2001. Bên cạnh đó, thu nhập bình quân của nhóm lao động dôi dư tìm được việc làm mới chỉ đạt 324.000 đồng/tháng đối với nữ, thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 367.000 đồng/tháng của toàn bộ lao động.

Nghiên cứu được triển khai nhằm phân tích thực trạng việc làm, điều kiện làm việc, các rào cản về trình độ chuyên môn kỹ thuật của nữ công nhân tại các doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn Hà Nội giai đoạn 1995 - 2001, đồng thời xây dựng hệ thống giải pháp tạo việc làm bền vững đến năm 2005 - 2010. Đóng góp của luận văn thể hiện ở việc lượng hóa các chỉ tiêu bất bình đẳng giới trong phân công lao động, cung cấp căn cứ thực tiễn để nâng cao chất lượng nhân lực nữ và chuyển dịch cơ cấu việc làm phù hợp với định hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa thủ đô.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết kinh tế lao động học Mác - Lênin về tái sản xuất sức lao động và lý thuyết thị trường lao động hiện đại trong điều kiện kinh tế chuyển đổi. Sức lao động được nhìn nhận là yếu tố đầu vào tích cực nhất, trực tiếp sáng tạo ra giá trị mới cho sản xuất công nghiệp. Mô hình nghiên cứu thiết lập cơ chế tạo việc làm dựa trên sự tương tác hữu cơ giữa ba chủ thể: Nhà nước kiến tạo môi trường pháp lý và chính sách hỗ trợ; Người sử dụng lao động quyết định quy mô vốn, công nghệ và nhu cầu chỗ làm việc; Người lao động chủ động cung ứng thể lực, trí lực và kỹ năng nghề nghiệp.

Các khái niệm then chốt được chuẩn hóa bao gồm: Việc làm đầy đủ (trạng thái thỏa mãn nhu cầu làm việc của mọi cá nhân có khả năng lao động); Việc làm hợp lý (trạng thái việc làm phù hợp với năng lực, nguyện vọng và đem lại năng suất lao động xã hội cao); Thiếu việc làm hữu hình (thời gian làm việc dưới mức quy định chuẩn); Thiếu việc làm vô hình (thời gian làm việc có hiệu quả kinh tế thấp dẫn đến thu nhập dưới mức tối thiểu); Lao động dôi dư (nhân lực bị đào thải trong quá trình tinh giản biên chế, cổ phần hóa doanh nghiệp).

Phương pháp nghiên cứu

Dữ liệu nghiên cứu được tổng hợp từ nguồn thứ cấp chính thống, bao gồm Niên giám Thống kê thành phố Hà Nội giai đoạn 1995 - 2001, các Báo cáo thực trạng lao động - việc làm của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, cùng các công trình điều tra chuyên đề của Viện Khoa học Lao động và Các vấn đề xã hội. Cỡ mẫu nghiên cứu bao quát dữ liệu dân số trung bình 2.786.100 người của Hà Nội năm 2001 và tập hợp khảo sát vi mô chuyên sâu tại 20 doanh nghiệp công nghiệp có lao động dôi dư.

Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng để khảo sát các đơn vị sản xuất quy mô lớn có tỷ lệ lao động nữ cao như Tổng công ty Dệt may Hà Nội (3.410 nữ trên 4.871 lao động), Công ty May Thăng Long (1.882 nữ trên 2.182 lao động), Công ty Bánh kẹo Hải Hà (1.316 nữ trên 1.900 lao động) và Xí nghiệp Gia công Xuất khẩu Giày Đông Anh (2.631 nữ trên 2.767 lao động).

Nghiên cứu kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh chuỗi thời gian (1996 - 2001), phân tổ thống kê theo hình thức sở hữu (doanh nghiệp nhà nước, ngoài quốc doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) và phương pháp chuyên gia. Việc lựa chọn tổ hợp phương pháp này giúp bóc tách rõ nét mối quan hệ nhân quả giữa quá trình tái cấu trúc sở hữu doanh nghiệp với các biến số về giới, trình độ chuyên môn và quỹ thời gian lao động thực tế. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt quá trình chuyển giao thế kỷ từ năm 1996 đến năm 2001.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, cơ cấu việc làm của lao động nữ phân hóa sâu sắc theo đặc tính công nghệ của từng ngành sản xuất. Lao động nữ chiếm tỷ trọng vượt trội trong các ngành công nghiệp nhẹ và chế biến thực phẩm: ngành dệt may đạt 76,22%, chế biến lương thực thực phẩm đạt 60,96%, sành sứ thủy tinh đạt 48,96%. Đáng chú ý, tại Xí nghiệp Da giày Đông Anh, lao động nữ chiếm tới 95,08%, và Công ty May Thăng Long đạt 86,25%. Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ làm việc trong các ngành độc hại, nặng nhọc vẫn ở mức cao không phù hợp với thể chất: ngành hóa chất - cao su chiếm 40,79%, cơ khí - năng lượng chiếm 28,33%, và sản xuất vật liệu xây dựng chiếm 23,75%.

Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực nữ còn nhiều khoảng trống về chuyên môn kỹ thuật. Số liệu năm 2001 chỉ ra rằng tỷ lệ lao động nữ chưa qua đào tạo chiếm tới 56,68% (cao hơn mức 49,48% của nam giới). Tỷ lệ phụ nữ mù chữ hoặc chưa tốt nghiệp cấp I là 5,73% (trong đó 1,04% mù chữ hoàn toàn, cao gấp 6,1 lần nam giới với 0,17%). Mô hình đào tạo bộc lộ nghịch lý thừa thầy thiếu thợ khi tỷ lệ nữ có bằng đại học, cao đẳng đạt 18,82%, nhưng công nhân kỹ thuật có bằng chỉ chiếm khiêm tốn 6,59% và sơ cấp nghề chỉ chiếm 2,54%.

Thứ ba, lao động nữ là đối tượng gánh chịu rủi ro cao nhất trong quá trình tinh giản doanh nghiệp nhà nước. Trong số 6.413 lao động dôi dư tại Hà Nội năm 2001, lao động nữ chiếm tỷ lệ áp đảo 85,14%. Tại Công ty Cổ phần Giày da Hà Nội, tỷ lệ dôi dư lên đến 50,03% (nữ chiếm 50,67%), với 92,3% lao động mất việc chưa qua đào tạo nghề. Sau khi mất việc, lao động nữ phải mất 3 đến 9 tháng mới tìm được việc làm tạm thời ở khu vực phi chính thức.

Thứ tư, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và làng nghề truyền thống đóng vai trò quan trọng trong việc tạo chỗ làm mới. Đến năm 2001, khu vực FDI đã giải quyết việc làm cho 13.663 lao động Hà Nội, trong đó nữ chiếm 65,14% (8.900 người). Đồng thời, 83 làng nghề truyền thống trên địa bàn thành phố thu hút hơn 40.000 lao động tham gia sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu cho thấy sự bất bình đẳng kép mà lao động nữ phải đối mặt: vừa chịu áp lực phân công lao động gia đình, vừa thiếu hụt kỹ năng để đáp ứng công nghệ mới. Khi trình bày dữ liệu thông qua các bảng phân tổ chéo giữa ngành nghề và số ngày công, có thể thấy thời gian làm việc thực tế bình quân của lao động nữ là 277 ngày/năm, thấp hơn 13 ngày so với mức 290 ngày của nam giới. Hiện tượng này thể hiện tình trạng thiếu việc làm cục bộ xen kẽ với tình trạng tăng ca quá mức vào mùa cao điểm tại các xí nghiệp may mặc, nơi 68,04% công nhân làm thêm giờ là phụ nữ.

So sánh với các nghiên cứu cùng thời kỳ, chính sách hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ theo Nghị định số 23/CP gần như không phát huy hiệu lực trên địa bàn Hà Nội do thủ tục hành chính phức tạp. Toàn thành phố không có doanh nghiệp nào tiếp cận được gói miễn giảm thuế này, trong khi các địa phương khác như Nghệ An có 3 doanh nghiệp và Thành phố Hồ Chí Minh có 1 doanh nghiệp được hưởng ưu đãi.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, quy hoạch lại mạng lưới dạy nghề và nâng cao trình độ kỹ năng chuyên môn cho lao động nữ. Thành phố cần phân bổ lại hệ thống 135 cơ sở đào tạo nghề, chuyển dịch bớt các trung tâm từ nội thành (hiện có 96 cơ sở) về khu vực ngoại thành (hiện chỉ có 39 cơ sở) nhằm tạo điều kiện cho phụ nữ nông thôn tiếp cận học nghề. Thành lập Khoa Kỹ thuật Công nghệ Da giày tại Trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Khoa Thiết kế mẫu tại Trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Hà Nội trong giai đoạn 2002 - 2004, hướng tới đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề từ bậc 3/7 trở lên.

Thứ hai, đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước gắn liền với giải quyết an sinh cho lao động dôi dư. Sở Công nghiệp Hà Nội cần phân loại rõ 265 doanh nghiệp nhà nước thành ba nhóm: nhóm duy trì 100% vốn, nhóm chuyển đổi sở hữu (cổ phần hóa, giao, bán, khoán) và nhóm thua lỗ kéo dài để xử lý dứt điểm trước năm 2005. Thực hiện chi trả trợ cấp mất việc thỏa đáng và hỗ trợ kinh phí đào tạo lại nghề cho 85,14% lao động nữ thuộc diện dôi dư.

Thứ ba, giải phóng tiềm năng khu vực kinh tế ngoài quốc doanh và các làng nghề truyền thống. Khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư (ước tính tương đương 12 tỷ USD vào năm 2000) thông qua nới lỏng hạn mức tín dụng và đơn giản hóa thủ tục thế chấp đất đai cho 15.880 cơ sở sản xuất tư nhân. Hỗ trợ vốn và công nghệ sạch cho 83 làng nghề truyền thống nhằm mở rộng quy mô thu hút 40.000 lao động nữ tại các vùng ven đô.

Thứ tư, cải cách thủ tục hành chính trong thực thi chính sách ưu đãi thuế. Bộ Tài chính và Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội cần ban hành văn bản hướng dẫn cụ thể việc giảm thuế thu nhập doanh nghiệp theo Nghị định số 23/CP cho các đơn vị sử dụng trên 50% lao động nữ, rút ngắn thời gian thẩm định hồ sơ dưới 30 ngày làm việc để khuyến khích người sử dụng lao động mở rộng tuyển dụng nữ giới.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Hà Nội, Sở Công nghiệp, Ban Quản lý các Khu công nghiệp và Chế xuất, Hội Liên hiệp Phụ nữ Hà Nội. Use case: Sử dụng hệ thống chỉ số việc làm và dữ liệu lao động dôi dư để xây dựng kế hoạch đào tạo nghề, phân bổ quỹ giải quyết việc làm và điều chỉnh chính sách an sinh xã hội cấp thành phố.

Nhóm lãnh đạo doanh nghiệp và nhà quản trị nhân lực: Các giám đốc điều hành, trưởng phòng nhân sự trong ngành may mặc, da giày, chế biến thực phẩm và lắp ráp điện tử. Use case: Tham khảo căn cứ thực tế về chu kỳ làm việc 277 ngày/năm và đặc thù tâm sinh lý lao động nữ để thiết kế chế độ ca kíp, hoàn thiện chính sách phúc lợi thai sản và bố trí công việc an toàn, giảm thiểu tỷ lệ biến động nhân sự.

Nhóm viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học: Các viện nghiên cứu kinh tế, trường đại học khối kinh tế, xã hội học và nghiên cứu giới. Use case: Làm tài liệu giảng dạy cho các học phần Kinh tế lao động, Quản lý nguồn nhân lực, Xã hội học lao động và cung cấp khung lý thuyết tham chiếu cho các đề tài nghiên cứu chuyển đổi thị trường.

Nhóm học viên cao học và nghiên cứu sinh: Người học chuyên ngành Kinh tế phát triển, Quản lý kinh tế và Kinh tế lao động. Use case: Khai thác phương pháp luận kết hợp giữa chuỗi số liệu vĩ mô và khảo sát vi mô 20 doanh nghiệp, học hỏi kỹ thuật phân tổ thống kê và xử lý biến cấu trúc trong luận văn thạc sĩ.

Câu hỏi thường gặp

Lao động nữ ngành công nghiệp Hà Nội tập trung chủ yếu ở những nhóm ngành nào? Lao động nữ tập trung cao nhất ở các ngành công nghiệp nhẹ sử dụng nhiều nhân công và đòi hỏi sự khéo léo, kiên trì. Số liệu thực tế ghi nhận tỷ lệ nữ trong ngành dệt may chiếm 76,22%, chế biến thực phẩm chiếm 60,96%, sành sứ thủy tinh chiếm 48,96%, trong khi ngành vật liệu xây dựng chỉ chiếm 23,75%.

Tại sao tỷ lệ lao động nữ dôi dư lại chiếm tới 85,14% khi sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước? Nguyên nhân chủ yếu do 56,68% lao động nữ chưa qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật, chủ yếu làm các khâu thủ công đơn giản. Khi doanh nghiệp đổi mới máy móc, áp dụng cơ chế khoán và tinh giản biên chế, nhóm lao động này thiếu kỹ năng vận hành công nghệ mới và bị đào thải đầu tiên.

Nghị định số 23/CP hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động nữ như thế nào trong thực tế? Nghị định số 23/CP quy định việc xét miễn giảm thuế cho các doanh nghiệp có đông lao động nữ nhằm bù đắp chi phí thai sản, vệ sinh lao động. Tuy nhiên, do thủ tục xét duyệt rườm rà và hướng dẫn thiếu cụ thể, thành phố Hà Nội chưa có doanh nghiệp nào tiếp cận được chính sách ưu đãi này.

Nghịch lý lớn nhất trong cơ cấu đào tạo của lao động nữ Hà Nội giai đoạn này là gì? Đó là hiện tượng tháp đào tạo lộn ngược: tỷ lệ nữ có trình độ cao đẳng, đại học chiếm tới 18,82%, nhưng tỷ lệ công nhân kỹ thuật có bằng chỉ đạt 6,59% và sơ cấp nghề đạt 2,54%. Thực trạng này gây lãng phí nguồn lực trí thức và dẫn đến khủng hoảng thiếu thợ bậc cao trong sản xuất.

Khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) đóng góp gì vào việc giải quyết việc làm cho phụ nữ? Khu vực FDI giai đoạn 1996 - 2001 đã tạo việc làm ổn định cho 13.663 lao động thủ đô, trong đó phụ nữ chiếm tới 65,14% (8.900 người). Các dự án FDI tại Khu công nghiệp Thăng Long, Sài Đồng B, Nội Bài mang lại môi trường làm việc tiên tiến, thu nhập ổn định và tác phong công nghiệp chuyên nghiệp cho lao động nữ.

Kết luận

  • Ngành công nghiệp Hà Nội duy trì tốc độ tăng trưởng 15,2%/năm giai đoạn 1996 - 2000, tạo ra 184.745 việc làm thường xuyên, trong đó lao động nữ chiếm tỷ lệ 45%.
  • Tồn tại khoảng cách lớn về chất lượng nguồn nhân lực khi 56,68% lao động nữ chưa qua đào tạo kỹ thuật và cơ cấu đào tạo bị mất cân đối nghiêm trọng với tỷ lệ đại học gấp gần 3 lần công nhân kỹ thuật có bằng.
  • Quá trình chuyển đổi kinh tế và sắp xếp doanh nghiệp nhà nước tạo ra sức ép an sinh nặng nề, khiến phụ nữ chiếm tới 85,14% tổng số 6.413 lao động dôi dư tại thủ đô.
  • Động lực mở rộng việc làm mới phụ thuộc chủ yếu vào sự năng động của 15.880 cơ sở ngoài nhà nước, 83 làng nghề truyền thống và dòng vốn 7.485 triệu USD từ 399 dự án FDI.
  • Việc thực thi đồng bộ các giải pháp quy hoạch lại 135 cơ sở dạy nghề, thành lập các khoa chuyên ngành da giày, đơn giản hóa thủ tục giảm thuế theo Nghị định số 23/CP là yêu cầu cấp thiết hàng đầu.

Các nhà quản lý chính sách, lãnh đạo hiệp hội doanh nghiệp và cơ sở nghiên cứu cần triển khai ngay việc rà soát mạng lưới đào tạo nghề, tháo gỡ rào cản hành chính cho các doanh nghiệp thâm dụng lao động nữ nhằm phát triển nguồn nhân lực bền vững cho thủ đô.