Chương 1. TỔNG QUAN VỀ NEUTRINO 1. MÔ HÌNH CHUẨN VÀ NEUTRINO TRONG MÔ HÌNH CHUẨN 1. Giới thiệu về Mô hình chuẩn Vũ Trụ của chúng ta được cấu thành từ các hạt cơ bản (là các hạt không thể phân chia được nữa) tuân theo 4 tương tác cơ bản bao gồm: tương tác điện từ, tương tác mạnh, tương tác hấp dẫn và tương tác yếu.
Trong đó, SM là một trong những lý thuyết thành công nhất của vật lý học thế kỷ 20 mô tả một cách thống nhất 3 tương tác bao gồm: tương tác mạnh, tương tác yếu và tương tác điện từ. Trong SM, các hạt cơ bản được chia thành 2 loại dựa theo spin của hạt bao gồm: fermion (các hạt có spin bán nguyên gồm các lepton và quark, là thành phần cấu tạo nên vật chất và phản vật chất của Vũ Trụ) và các hạt boson (có spin nguyên đóng vai trò là hạt trung gian truyền tương tác cho các hạt fermion: photon γ, boson W ± và Z 0 , gluon).1 tóm tắt các hạt cơ bản và thuộc tính của nó trong mô tả của SM.1: Các hạt cơ bản trong SM. Luan van 8 Mỗi fermion đều có phản hạt của nó mang spin bán nguyên và điện tích trái dấu ngoại trừ neutrino không có điện tích. Ngoài ra còn có hạt boson Higgs được xem là "hạt của Chúa" do CERN tìm ra vào năm 2012, để sinh khối lượng cho các hạt quark và lepton.
Việc phát hiện ra hạt Higgs trong thực nghiệm đã góp phần hoàn thiện bức tranh của SM. Trong SM, tương tác điện từ, tương tác mạnh và tương tác yếu được mô tả dựa trên nhóm đối xứng chuẩn SU (3)C ⊗ SU (2)L ⊗ U (1)Y. Trong đó, nhóm SU (3)C mô tả tương tác mạnh, tác động lên các hạt quark mang tích màu thông qua 8 hạt gluon không khối lượng, đóng vai trò hạt truyền tương tác mạnh. Trong SM, 12 hạt fermion bao gồm 6 quark và 6 lepton được sắp xếp thành 3 thế hệ và đi theo từng cặp: Bảng 1.1: Sắp xếp các hạt fermion theo thế hệ.
Thế hệ 1 2 3 Lepton νe , e νµ , µ ντ , τ Quark u, d c, s t, b Các hạt trong các thế hệ giống nhau về tính chất nhưng khác nhau về khối lượng. Đối với fermion có điện tích, thế hệ 1 có khối lượng nhỏ và bền, các thế hệ tiếp theo có khối lượng lớn hơn và dễ phân rã thành thế hệ 1. Riêng đối với neutrino thì kết luận trên vẫn chưa được kiểm chứng. Các fermion có spin 1/2 có 2 trạng thái phân cực: phân cực trái và phân cực phải.
Thực nghiệm chứng tỏ rằng chỉ có các thành phần phân cực trái của fermion là tham gia vào tương tác yếu. Để đảm bảo các mô tả trong SM là phù hợp với kết quả thực nghiệm, các hạt trong SM được sắp xếp như sau: Luan van 9 • Xếp tất cả các fermion phân cực trái vào lưỡng tuyến của SU (2)L. • Các lepton mang điện tích (e, µ, τ ) và các quark phân cực phải biến đổi như đơn tuyến của SU (2)L. 3 thế hệ lepton cùng các neutrino gắn với lepton tích điện của nó được sắp xếp vào lưỡng tuyến của nhóm SU (2)L.
• Các lepton không có màu nên biến đổi như một đơn tuyến của nhóm đối xứng màu SU (3)C. • Các quark có màu biến đổi như một tam tuyến của nhóm màu. • Điện tích Q liên hệ với siêu tích yếu Y theo biểu thức: Y Q = T3 + , với T3 là vi tử chéo của SU (2)L (1.1) 2 Theo đó, sự sắp xếp các hạt trong SM được biểu diễn như sau: + Đối với các lepton: νi ψiL = ∼ (1, 2, −1); liR ∼ (1, 1, −2), i = e, µ, τ (1.2) li L + Đối với các quark: ui 1 4 −2 QiL = ∼ 3, 2, , uiR ∼ 3, 1, , diR ∼ 3, 1, (1.3) di 3 3 3 L với ui = u, c, t là các up-quark, di = d, s, b là các down-quark. Lagrange toàn phần trong SM có dạng: L =Lk + LY + LH + Lgauge =(iψ̄iL γ µ DµψL ψiL + i¯liR γ µ DµlR liR + iQ̄iL γ µ DµQL QiL + iūiR γ µ DµuR uiR + id¯iR γ µ DµdR diR ) − (hlij ψ̄iL ϕljR + hl∗ ¯ † d ij liR ϕ ψjL + hij Q̄iL ϕdjR + hd∗ ¯ † u c u∗ c† ij diR ϕ QjR + hij Q̄iL ϕ ujR + hij ūiR ϕ QjL ) + (Dµ ϕ)† (Dµ ϕ) − V (ϕ) 1 1 − Fµν F µν − Bµν B µν .4) 4 4 Trong đó: ϕc = iσ2 ϕ∗ Luan van 10 • 5 số hạng đầu trong phương trình 1.4 là số hạng động năng Lk chứa thông tin mô tả các tương tác dòng với các gauge boson chuẩn.
• 6 số hạng tiếp theo trong thành phần thứ hai của phương trình 1.4 là các thành phần của Lagrange LY mô tả tương giác Yukawa - tương tác giữa các fermion (quark và lepton mang điện tích) đối với trường vô hướng Higgs hoặc phản lưỡng tuyến của trường Higgs để sinh khối lượng cho các fermion thông qua quá trình phá vỡ đối xứng tự phát. • Các số hạng trong dòng thứ 5 là thành phần động năng và thế vô hướng Higgs, mô tả tương tác của hạt Higgs với các trường chuẩn hoặc các gauge boson, sinh khối lượng cho các gauge boson W ± , Z thông qua cơ chế Higgs. • Các số hạng của dòng cuối phương trình là các thành phần cho boson cho phép xác định sự tự tương tác của các trường chuẩn với Fµν , Bµν là tensor cường độ trường chứa số hạng động năng của các trường chuẩn. Khối lượng neutrino trong Mô hình chuẩn Xét thành phần khối lượng của các fermion trong SM: Lfmass ermion = mψ̄ψ.5) Trong đó ψ là trường spinor bao gồm hai thành phần spinor phân cực trái (ψL = PL ψ) và spinor phân cực phải (ψR = PR ψ): ψ = ψL + ψR .6) Định nghĩa toán tử hình chiếu và các tính chất: 1 1 1 − γ 5 , PR = 1 + γ5 PL = (1.7) 2 2 PL + PR = 1, PR PR = PR , PL PL = PL , PL PR = 0.8) Khi đó số hạng khối lượng Dirac của các fermion: Luan van 11 −mψ̄ψ = −m(ψ̄L + ψ̄R )(ψL + ψR ) (1.
Kết hợp các phương trình trên và sử dụng tính chất của ma trận γ 5 với γ 5 = iγ 0 γ 1 γ 2 γ 3 : − PL† = PL , PR† = PR (γ 5 )† = γ 5 → (1.11) Khi đó số hạng khối lượng Dirac được viết lại: − mψ̄ψ = −m(ψ̄L ψR + ψ̄R ψL ).12) Vì các thành phần phân cực trái của các quark và lepton biến đổi như một lưỡng tuyến của nhóm SU (2)L , còn các thành phần phân cực phải của quark và lepton mang điện biến đổi như một đơn tuyến của nhóm SU (2)L do đó số hạng khối lượng của fermion không bất biến dưới phép biến đổi chuẩn của SM: SU (3)C ⊗ SU (2)L ⊗ U (1)Y. Để thỏa mãn bất biến Gauge, các fermion phải không có khối lượng. Tuy nhiên, trong thực tế các lepton mang điện tích và các hạt quark có khối lượng nên cần phải xây dựng tương tác để sinh khối lượng cho các fermion trong SM. Tương tác này là tương tác Yukawa, sự kết cặp giữa các thành phần phân cực trái và phân cực phải của fermion với trường Higgs: − LY = hlij ψ̄iL ϕljR + hdij Q̄iL ϕdjR + huij Q̄iL (iσ2 ϕ∗ )ujR + h.c là số hạng liên hợp hermitic; hlij , hdij , huij là các ma trận 3 × 3 dạng tổng quát và được gọi là hằng số tương tác Yukawa.
Sau khi phá vỡ đối xứng tự phát của trường Higgs ta thu được số hạng khối lượng cho các lepton và các quark: ν hlij √ ¯liL ljR = mlij ¯liL ljR , (1.14) 2 Luan van 12 ν hdij √ d¯iL djR = mdij d¯iL djR , (1.15) 2 ν huij √ ūiL ujR = muij ūiL ujR , (1.16) 2 suy ra khối lượng của các lepton và quark như sau: he ν hµ ν hτ ν me = √ , mµ = √ , mτ = √ , (1.17) 2 2 2 khối lượng của các quark loại u: hu ν hc ν ht ν mu = √ , mc = √ , mt = √ , (1.18) 2 2 2 khối lượng của các quark loại d: hd ν hs ν hb ν md = √ , ms = √ , mb = √ .19) 2 2 2 Tại thời điểm xây dựng SM, người ta chỉ đưa vào neutrino phân cực trái và không có thành phần neutrino phân cực phải. Do đó ta không thể xây dựng được số hạng khối lượng Dirac cho neutrino, khối lượng của các neutrino: mνe = mνµ = mντ = 0.20) Như vậy sau khi phá vỡ đối xứng tự phát, tất cả các fermion mang điện tích nhận được khối lượng Dirac ngoại trừ neutrino không có khối lượng. Như vậy, với cơ sở lý thuyết mà SM đưa ra thì neutrino được tiên đoán là không có khối lượng. Tuy nhiên đến năm 1998, hiện tượng dao động neutrino từ khí quyển được phát hiện bởi thí nghiệm Super-K [1] và dao động neutrino từ Mặt Trời được phát hiện bởi SNO năm 2001 [5, 6] đã cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng chứng tỏ neutrino có khối lượng và các lepton có sự trộn lẫn với nhau.
Đây là bằng chứng thực nghiệm quan trọng để chỉ ra sự không hoàn chỉnh của SM và yêu cầu cần phải mở rộng SM để sinh khối lượng cho neutrino và giải thích vấn đề khối lượng nhỏ của neutrino. Các mô hình xây dựng khối lượng neutrino thường theo 2 cách: thêm vào lepton mới hoặc các hạt vô hướng mới, từ đó có thể xây dựng số hạng khối lượng qua hai số hạng như đã đề cập là Dirac và Majorana. Vì neutrino trong SM bấy giờ chỉ quan sát được thành phần phân cực trái dẫn đến số hạng khối Luan van 13 lượng Dirac bằng 0 hay neutrino không khối lượng. Để xây dựng khối lượng kiểu Dirac ta sẽ thêm vào SM neutrino phân cực phải đơn tuyến.
Hạt neutrino này gọi là hạt neutrino lạ (sterile neutrino) do không tham gia tương tác nào trong 4 tương tác cơ bản trừ tương tác hấp dẫn. Tuy nhiên lại không giải thích một cách tự nhiên nhất về giá trị khối lượng nhỏ của neutrino nên các nhà vật lý xét thêm số hạng Majorana cho thành phần phân cực phải theo cơ chế seesaw [7–11].