ĐẶT VẤN ĐỀ Vẹo cột sống (VCS) là tình trạng đƣờng cong của cột sống lệch sang phía bên của trục cơ thể 10 độ và xoay của các thân đốt sống theo trục của mặt phẳng ngang [8]. Vẹo cột sống gây nên biến dạng lớn về giải phẫu, ảnh hƣởng đến sự phát triển của học sinh em, là nguyên nhân dẫn đến các tình trạng bệnh lý tuần hoàn, hô hấp, vận động và đặc biệt làm lệch khung chậu ở học sinh gái gây khó khăn cho sinh đẻ sau này [57]. Vẹo cột sống vô căn ở tuổi vị thành niên là bệnh hay gặp trong các bệnh lý biến dạng cột sống phổ biến với tỷ lệ lƣu hành từ 1-4% [55]. Tại Mỹ, tỷ lệ chẩn đoán vẹo cột sống ở lứa tuổi thanh thiếu niên dựa trên dân số là 522,5 trên 100.
Nghiên cứu tổng quan hệ thống ở Trung Quốc cho thấy tỷ lệ vẹo cột sống dao động từ 0,26% đến 2,5% và tỷ lệ lƣu hành chung là 1,02 % [128]. Một nghiên cứu ở Brazil trên đối tƣợng học sinh từ 10–14 tuổi chỉ ra rằng tỷ lệ mắc bệnh là 1,5% [103]. Ở Việt Nam đã có nghiên cứu điều tra ở một số địa phƣơng cho thấy tỷ lệ vẹo cột sống ở học sinh còn cao và khác nhau giữa các địa phƣơng. Tại Hà Nội tỷ lệ VCS ở học sinh tại 4 quận, huyện là 18,9% [27].
Nghiên cứu tại 2 tỉnh Sóc Trăng và An Giang cho thấy tỷ lệ học sinh tiểu học dân tộc Khmer mắc cong vẹo cột sống là 21,15% [42]. Tại Hải Dƣơng, tỷ lệ vẹo cột sống ở học sinh đƣợc báo cáo lên tới 43,09% [21].Tại Thái Nguyên theo nghiên cứu của Nông Thanh Sơn và cộng sự năm 2000 cho thấy tỷ lệ VCS là 11,9% [33], từ thời điểm đó cho đến nay, các nghiên cứu trong lĩnh vực này tại Thái Nguyên còn hạn chế. Kết quả một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng vẹo cột sống có liên quan đến tăng mức độ đau lƣng [110], mức độ căng thẳng và giảm chất lƣợng cuộc sống [82]. Nhằm giảm tỷ lệ mắc cũng nhƣ hậu quả của vẹo cột sống, việc xác định một số yếu tố liên quan đến vẹo cột sống đóng vai trò quan trọng.
Một số yếu tố có thể ảnh hƣởng đến tình trạng VCS ở học sinh em có thể kể đến nhƣ điều kiện học tập, bàn liền ghế, tƣ thế xấu, thói quen sách cặp nặng một bên 2 tay hoặc cắp bên nách, đội lên đầu, ôm trƣớc ngực… nếu không phát hiện kịp thời thì tình trạng vẹo cột sống sẽ tăng lên và gây khó hăn cho việc phục hồi chức năng sau này [24], [10]. Ngoài ra, các yếu nhƣ tuổi, giới, bảo hiểm, hay một số yếu tố khác (dân tộc, thu nhập gia đình…) còn chƣa có sự thống nhất về kết quả giữa các nghiên cứu [86], [75], [127]. Nhằm giảm thiểu những biến chứng cho ngƣời bệnh, giảm chi phí điều trị việc can thiệp phục hồi chức năng sớm đặc biệt ở độ tuổi nhỏ là hết sức cần thiết, ngoài ra việc can thiệp phục hồi chức năng sớm còn giảm thiểu đƣợc hậu quả của biến chứng, giảm khả năng phải tiến hành phẫu thuật nắn chỉnh vô cùng phức tạp do cấu trúc giải phẫu của cột sống. Để việc can thiệp sớm khả thi và hiệu quả, can thiệp phục hồi chức năng (PHCN) dựa vào cộng đồng thông qua việc nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành về dự phòng và hƣớng dẫn PHCN cho học sinh và ngƣời chăm sóc có ý nghĩa rất quan trọng.
Việc xác định đặc điểm dịch tễ học và yếu tố liên quan đến vẹo cột sống là tiền đề để xây dựng các biện pháp can thiệp phù hợp và hiệu quả. Tại Thái Nguyên, kết quả nghiên cứu từ những năm 2000 đã cho tấy tỷ lệ vẹo cột sống ở mức cao. Với xu hƣớng phát triển bùng nổ về dân số, số lƣợng trƣờng học ngày một nhiều, số học sinh cũng tăng lên nhiều lần, từ thời điểm đó đến nay chƣa có nghiên cứu nào đƣợc tiến hành nhằm làm rõ về lĩnh vực vẹo cột sống ở học sinh. Câu hỏi đặt ra là thực trạng bệnh cong vẹo cột sống của học sinh tiểu học ở Thái Nguyên là nhƣ thế nào, yếu tố nào ảnh hƣởng đến bệnh VCS của học sinh tiểu và hiệu quả biện pháp can thiệp phục hồi chức năng ở học sinh VCS là nhƣ thế nào? Nhận thức đƣợc tầm quan trọng của vấn đề đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu này nhằm mục tiêu: 1.
Mô tả thực trạng bệnh vẹo cột sống và một số yếu tố liên quan ở học sinh tiểu học tỉnh Thái Nguyên năm 2017 2. Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành và phục hồi chức năng vẹo cột sống của học sinh và người chăm sóc. Đánh giá hiệu quả một số giải pháp can thiệp vẹo cột sống cho học sinh tiểu học tại Thái Nguyên. 3 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.
Một số khái niệm liên quan đến vẹo cột sống 1. Khái niệm và nguyên nhân vẹo cột sống Khái niệm Vẹo cột sống (VCS) là tình trạng đƣờng cong của cột sống lệch sang phía bên của trục cơ thể 10 độ và xoay của các thân đốt sống theo trục của mặt phẳng ngang [30]. Phân loại vẹo cột sống * Vẹo cột sống cấu trúc Là cột sống bị vẹo kèm theo sự thay đổi về cấu trúc và các đốt sống bị xoay gây biến dạng và không nắn chỉnh thẳng hàng đƣợc khi bệnh nhân nghiêng cột sống về phía đỉnh của đƣờng cong trên lâm sàng và X-Quang. Bao gồm: Vẹo cột sống tự phát: VCS tự phát ở học sinh nhỏ dƣới 4 tuổi bao gồm: VCS tự khỏi ở học sinh nhỏ, 90 – 95% tự khỏi, không cần điều trị, VCS tự phát ở học sinh nhỏ tiên lƣợng rất kém và thƣờng dẫn đến những biến dạng lớn nếu không đƣợc can thiệp PHCN sớm trong giai đoạn đang tiến triển.
Các đƣờng cong VCS tự phát ở học sinh nhỏ hay gặp ở ngực, chiều lồi của đƣờng cong ở bên trái và học sinh trai thƣờng gặp hơn học sinh gái. Vẹo cột sống tự phát tuổi thiếu nhi: tuổi từ 4-9 tuổi, chiếm từ 10 đến (20%) các loại VCS tự phát ở học sinh em. Vẹo cột sống tự phát ở tuổi vị thành niên là loại VCS ở lứa tuổi từ 10 tuổi đến khi xƣơng trƣởng thành. Đây là loại VCS phổ biến nhất, chiếm tỷ lệ (85%) số bệnh nhi vẹo cột sống cần điều trị, thƣờng gặp ở học sinh gái và đƣờng cong phổ biến nhất ở ngực phải [57], [80].
Vẹo cột sống do biến dạng cột sống bẩm sinh: Vẹo cột sống do biến dạng cột sống bẩm sinh có thể do sự phát triển bất thƣờng của xƣơng, biến 4 dạng bất thƣờng thân đốt sống, có thể do sự phát triển bất thƣờng của tủy sống nhƣ loạn sản tủy và cũng có thể do các nguyên nhân phối hợp nhƣ sự bất thƣờng của xƣơng phối hợp với liệt [80], [95], [96]. Vẹo cột sống do nguyên nhân thần kinh cơ: Do các bệnh lý về thần kinh: Bại liệt, bại não, bệnh rỗng tủy sống và cũng có thể do các bệnh lý về cơ nhƣ teo cơ tiến triển [57]. Vẹo cột sống do rối loạn của mô giữa: Vẹo cột sống do rối loạn của mô giữa có thể do bệnh Marfan hoặc co rút đa khớp bẩm sinh [57]. Vẹo cột sống do chấn thương: Thƣờng do gẫy cột sống, phẩu thuật cột sống hoặc các nguyên nhân ngoài cột sống: nhƣ bỏng hoặc tạo hình ngực [57].
Vẹo cột sống do hiện tượng kích thích: Thƣờng do các bệnh lý về u tủy sống hoặc kích thích rễ thần kinh [57]. Vẹo cột sống do các nguyên nhân khác: Thƣờng do rối loạn chuyển hóa, rối loạn dinh dƣỡng hoặc rối loạn nội tiết [57]. Vẹo ột sốn n ấu tr Là cột sống bị vẹo nhƣng các đốt sống chƣa bị biến đổi cấu trúc, không bị xoay và đƣợc nắn chỉnh thẳng hàng khi bệnh nhân nghiêng cột sống về phía đỉnh của đƣờng cong trên lâm sàng và X-Quang [30]. Vẹo cột sống không cấu trúc bao gồm: Vẹo tƣ thế, vẹo bù trừ, vẹo do thoát vị đĩa đệm, vẹo do viêm.
Nguyên nhân Nguyên nhân chung - Không rõ nguyên nhân: chiếm khoảng 80% trƣờng hợp, thƣờng mang tính gia đình, có thể xuất hiện ở học sinh nhỏ, thiếu nhi và tuổi dậy thì. - Bẩm sinh: xuất hiện ở gia đoạn bào thai, thƣờng do sự khiếm khuyết, biến dạng của thân đốt sống, khe khớp và đĩa đệm. - Thần kinh – cơ: chiếm khoảng 20% các trƣờng hợp vẹo cột sống liên quan đến bất thƣờng về thần kinh cơ nhƣ bại não hoặc loạn dƣỡng cơ. Trong 5 trƣờng hợp này, học sinh có thể không có khả năng đi đứng thẳng, ngăn chặn hơn nữa cột sống phát triển lệch lạc.
- Nguyên nhân khác: bất thƣờng của hệ xƣơng nhƣ hội chứng Marfan, rối loạn chuyển hóa xƣơng [30]. Nguyên nhân vẹo cột sống mắc phải - Học sinh ngồi sai tƣ thế. - Bàn, ghế ngồi không phù hợp chiều cao của học sinh. - Phòng học thiếu ánh sáng.
- Một số thói quen xấu của học sinh. - Học sinh ngồi học quá lâu và ít thay đổi tƣ thế [30]. Chẩn đoán - K ám lâm sàn và lƣợng giá chứ năn + Cột sống cong vẹo sang phía bên hoặc ƣỡn ra trƣớc, gù ra sau so với trục giải phẫu của cột sống, có thể là một đƣờng cong hoặc hai đƣờng cong. + Xƣơng bả vai 2 bên không cân đối.
+ Xuất hiện những ụ gồ ở vùng lƣng, mà đỉnh các ụ gồ đó thƣờng trùng với chỗ cong vẹo nhất của cột sống, thƣờng thấy rõ nhất khi yêu cầu bệnh nhân đứng cúi lƣng. + Đối diện với bên xuất hiện ụ gồ thƣờng là vùng lõm, đây là hậu quả của tình trạng xoay của các thân đốt sống. + Hai vai mất cân xứng với đặc điểm một bên nhô cao và thƣờng ngắn hơn bên đối diện do tình trạng co kéo của các nhóm cơ vùng lƣng. + Khung chậu bị nghiêng lệch và cũng bị xoay.
+ Trên thân mình có thể xuật hiện những đám da đổi màu (màu bã cà phê) + Vùng lƣng, đặc biệt là vùng thắt lƣng có thể xuất hiện những đám lông + Có thể phát hiện thấy tình trạng chênh lệch chiều dài hai chân hoặc các dị tật khác của hệ vận động. + Thử cơ bằng tay: Phát hiện các cơ liệt. 6 + Nghiệm pháp quả rọi: Thả quả rọi mà mốc là gai sau của đốt sống C7 sẽ phát hiện rõ độ cong của cột sống và xác định đƣợc vị trí đỉnh đƣờng cong. + Đo bằng thƣớc Scoliometer tại vị trí đỉnh đƣờng cong [8].